Welcome to www.MangTreVN.com. Click here to register
It is currently 15 Dec 2017 15:37




Post new topic Reply to topic  [ 24 posts ]  Go to page 1, 2, 3  Next
Author Message
PostPosted: 11 Mar 2015 02:37 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47724
Thanks: 321
Thanked: 29450 times
DongCung.jpg


Tác giả : Phỉ Ngã Tư Tồn

Dịch giả : Schan


Giới Thiệu


Nàng, vốn là cửu công chúa của Tây Lương quốc, ở Tây Lương nàng được vô vàn ân sủng, chỉ vì cầu thân mới phải lên đường đến Trung Nguyên.

Hắn, thân là đương kim thái tử, địa vị chỉ khom lưng dưới một người mà đứng trên cả ngàn vạn kẻ khác, vì hôn nhân chính trị, bất đắc dĩ mới phải lấy công chúa của dị quốc.

Hắn có ái phi của riêng mình, Triệu lương đệ. Nàng cũng có cuộc sống của riêng nàng, ấy là lén xuất cung, chặn ngựa lồng dở chứng, trừ gian diệt ác, đuổi trộm cắp, tiễn trẻ lạc về tận nhà, lại còn có uống rượu, ngao du kỹ viện….

Họ tưởng đâu chỉ là 2 đường thẳng song song vĩnh viễn không bao giờ giao nhau.

Thế rồi những tranh đoạt địa vị trong Đông Cung, những phải trái vô duyên cớ, những nham hiểm ngấm ngầm, lại cứ từng bước từng bước cuốn nàng công chúa ấy vào dòng nước xoáy.

“Có con cáo nhỏ ngồi trên cồn cát, ngồi trên cồn cát, ngắm nhìn ánh trăng.
Ô thì ra không phải nó đang ngắm trăng, mà đang đợi cô nương chăn cừu trở về…..
Có con cáo nhỏ ngồi trên cồn cát, ngồi trên cồn cát, sưởi nắng.
Ô thì ra không phải nó đang sưởi nắng, mà đang đợi cô nương cưỡi ngựa đi qua…..

Hóa ra cứ mãi đợi mãi chờ, con cáo ấy lại chẳng thể đợi được người mà nó muốn


You do not have the required permissions to view the files attached to this post.

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 11 Mar 2015 02:44 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47724
Thanks: 321
Thanked: 29450 times
Phần I _ Thẳng Tắp


Chương 1

Tôi và Lí Thừa Ngân vừa mới cãi nhau. Sau mỗi lần lục đục giữa hai người, hắn bao giờ cũng tỏ ra phớt lờ tôi, mà cũng cấm kị những người ngoài được phép tiếp chuyện với tôi.

Tôi cảm giác buồn chán vô vị biết mấy, được dịp liền lén lút chuồn ra ngoài chơi. A Độ vẫn theo tôi, nàng ấy lúc nào cũng kề bên như hình với bóng, bất kể là đi đến đâu cũng không bao giờ thoát nổi. Được cái tôi cũng chẳng ghét nàng A Độ này, nàng ta trừ việc có hơi cố chấp ra thì cái gì cũng tốt, lại còn biết võ công, có thế giúp tôi đánh đuổi kẻ xấu.

Chúng tôi đến quán trà nghe thuyết thư, vị tiên sinh giảng thuyết thư nói đến sùi bọt mép, đang kế đến đoạn Tiên Kiếm chém bay đầu người từ khoảng cách nghìn dặm, tôi hỏi A Độ: “Này, ngươi có tin trên đời này có Tiên Kiếm không?”

A Độ lắc lắc đầu.

Tôi cũng cảm thấy thật khó tin.

Trên đời này cao thủ võ lâm thì có đấy, như chuôi Kim Thác Đao của A Độ đây, tôi từng chứng kiến bản lĩnh của nàng ấy rồi, nhanh như chớp. Nhưng cái kiểu sát thương trong phạm vi ngàn dặm này, tôi cảm giác đơn thuần là nói khoác cả thôi ấy mà.

Lúc ra khỏi quán rượu, chúng tôi thấy đầu đường có một đám khá đông người tụ tập, trời sinh tôi đã thích góp vui, lẽ đương nhiên cũng chen qua xem thế nào. Nơi đó vốn có một cô nương cả người vận đồ tang đang quỳ khóc lóc sụt sùi, phía sau là manh chiếu rách cuộn tròn, đầu bó chiếu để lòi ra hai bàn chân khô đét của xác chết, đến giầy cũng không có để mà mang. Bao người qua đường vừa lắc đầu vừa thở dài trước bốn chữ đen trên vải bố trắng “bán thân chôn cha” của cô nương ấy.

“Ồ. Bán thân chôn cha! Xin hỏi, vị cô nương này định bán mình giá bao nhiêu?”

Tất cả những người xung quanh đều trừng mắt với tôi. Tôi quên khuấy mất mình lại đang mặc đồ nam, liền rụt cổ, le lưỡi. Lúc này A Độ đã kéo vạt áo tôi, tôi hiểu ý của nàng ấy, A Độ lúc nào cũng chỉ lo tôi gặp rắc rối, thực ra thì, tuy là tôi cả ngày bay nhảy ở ngoài đường đấy, nhưng trừ 1 lần chặn ngựa chứng, 2 lần đánh bọn ôn con hư đốn, 3 lần đưa trẻ lạc về tận nhà, tầm 4 hay 5 lần đuổi bọn trộm cắp vặt ra thì quả thật cũng không phải loại hay lo chuyện bao đồng cho lắm đâu….

Tôi len lén lách ra sau đám đông, tỉ mỉ quan sát xác chết cuốn trong bọc chiếu rách ấy, rồi khụy gối, tiện tay rút 1 cọng cói trên chiếu, nhè nhẹ khều vào lòng bàn chân cứng ngắc kia.

Khều này khều này, này thì khều….tôi cứ nhẫn nại chọt chọt không ngừng. “Xác chết” trong bó chiếu cuối cùng nhịn không nổi đã bắt đầu run lên, càng run càng dữ tợn, càng nhột càng run….Đám người xung quanh cũng phát hiện ra sự lạ. Có kẻ thét lên 1 tiếng chỉ vào bó chiếu đang run lên bần bật, răng nghiến kêu kèn kẹt, thốt không nổi lên lời; cũng có kẻ gào lên “xác chết trá hình”; càng lúc càng có nhiều người đực mặt trố mắt nhìn, tôi vẫn không nao núng tiếp tục chọt, “xác chết” nằm dưới bó chiếu cuối cùng không chịu nổi cơn buồn bứt rứt ấy, ló ra khỏi chiếu, lớn tiếng chửi: “Thằng chó nào chọt chân ông?”

Tôi cũng chua ngoa chửi lại: “Thằng chó này chửi ai đấy?”

Hắn quả nhiên mắc lừa: “Thằng chó này chửi ngươi đấy!”

Tôi vỗ tay cười: “Quả nhiên có thằng chó đang chửi ta!”

Hắn vùng dậy toan đạp tôi, A Độ nhanh như chớp đã chắn ở giữa. Tôi lè lưỡi lêu lêu hắn: “Đồ lừa đảo, giả chết này, cũng chỉ đáng giá 3 đồng kẽm thôi à!”

Tay lừa đảo ức mình, cả con ranh mình mặc đồ tang cùng phe với hắn cũng hướng phía tôi mà bổ nhào đến. A Độ xưa nay chưa từng muốn đánh nhau trên đường, vội kéo tôi chạy như bay.

Có những lúc tôi chẳng muốn đi cùng với A Độ tẹo nào, bởi lẽ mỗi lần chuyện hay ho còn đang dang dở, nàng ta đã kéo tôi đào ngũ. Đã thế cánh tay nàng ta lại như gọng kìm bằng sắt, tôi có giãy giụa thế nào cũng không thoát, đành phó mặc cho nàng ấy kéo, cả đường cứ loạng choạng lảo đảo lao như bay. Chính lúc chúng tôi hòa vào dòng người chạy được quá nửa con chợ, chợt tôi để ý đến trong quán trà trước mắt, có người đang dõi theo tôi. Người đó có tướng mạo khá ưa nhìn, thân mặc một áo choàng màu xanh nhạt, con ngươi đen láy tĩnh lặng dán chăm chú trên người tôi.

Không hiểu sao, tim tôi chợt nhói một cái. Chạy đến chân miếu thờ, A Độ mới chịu nới lỏng tay, ngoảnh đầu trông lại, người kia đã mất hút.

A Độ không hỏi tôi đang nhìn gì, nàng ấy được cái trước nay chưa từng hỏi này hỏi nọ. Tôi cảm giác chính mình ngày hôm nay có phần bồn chồn trong bụng, mà có lẽ nguyên do cũng bởi trận lớn tiếng mới gần đây với Lí Thừa Ngân. Tuy là mỗi lần hắn cãi không thắng nổi tôi đâu, tôi cuối cùng có thể khiến hắn cứng họng luôn, nhưng hắn cũng sẽ dùng cách khác để mà đánh trả, ví dụ như không cho kẻ khác được đếm xỉa đến tôi, như thể tôi là 1 người thấy mà cũng coi như không thấy chẳng hạn. Cảm giác đó quả thực không dễ chịu chút nào cả, nếu như tôi không lẩn ra ngoài chơi, sớm muộn cũng bức bối đến chết mất thôi.

Tôi cảm thấy vô cùng nhàm chán, cúi đầu đá hòn sỏi, hòn sỏi bay nảy tưng tưng dường như một trái cầu. Lí Thừa Ngân là cao thủ đá cầu, quả cầu bằng da nhỏ xíu nhảy nhót trên đầu mũi chân hắn giống như một loài vật bé nhỏ, phó mặc hắn xoay vần đủ kiểu. Mà tôi lại không biết đá cầu, cũng chưa từng được học qua, bởi vì Lí Thừa Ngân không thèm dạy tôi, cũng không để người khác dạy, hắn luôn nhỏ mọn là thế đấy.

Tôi dùng lực mạnh hơn, đá một phát, hòn sỏi bay lọt vào cống ngầm, “tõm” một tiếng, tôi mới nhận ra mình bất giác đã chạy đến một ngõ nhỏ. Hai bên đều là tường nhà cao chót vót, nhà ở đây luôn dựng rất cao, lại còn có hình dáng chân trong chân ngoài kiểu cổ quái, tôi chợt cảm giác có hơi hơi sởn tóc gáy….kiểu như lông măng đằng sau đã dựng thẳng đứng cả lên ấy.

Tôi ngoảnh lại không thấy A Độ đâu, tôi lớn tiếng gọi: “A Độ!”

Trong ngõ trống vắng chỉ vọng lại âm thanh của chính mình. Nỗi hoang mang xưa nay chưa từng có giờ đây đang bùng dậy, mấy năm này, A Độ lúc nào cũng theo sát tôi như hình với bóng, thậm chí tôi đi nhà cầu, nàng ấy vẫn ở bên. Lúc tôi ngủ dậy, đã thấy ngay nàng ấy, khi tôi ngủ nàng ấy cũng nằm trước giường, xưa nay nàng ấy chưa từng chẳng nói chẳng rằng mà rời xa tôi đến quá một trượng, giờ thì chẳng thấy A Độ đâu.

Tôi lại gặp kẻ đó, cái người mặc áo màu xanh nhạt, hắn đứng ở đầu ngõ, từ xa vẫn nhìn chăm chú vào tôi.

Trong lòng tôi rối loạn, quay đầu gọi: “A Độ!”

Kẻ đó tôi cũng chẳng quen, nhưng vừa nãy trên đường, cái kiểu hắn nhìn tôi vô cùng kì lạ. Bây giờ tôi cảm giác hắn vẫn dùng cái kiểu kì quái vô cùng ấy nhìn tôi.

Tôi hỏi hắn: “Này! Ngươi có thấy A Độ không?”

Hắn không đáp lại, rồi chầm chậm tiến về phía tôi. Khuôn mặt ấy phủ lớp nắng, hắn cũng khá tuấn tú, còn ưa nhìn hơn cả Lí Thừa Ngân. Đôi mày tựa hai nét mác, mắt đen láy như bảo thạch, sống mũi cao ráo, làn môi tuy mỏng, thế nhưng viền môi thanh tú, tóm lại thì hắn là một nam nhân anh tuấn. Hắn bước thẳng một mạch đến trước mặt tôi, chợt nở nụ cười: “Tiểu thư, xin hỏi nàng tìm A Độ nào?”

Trên đời này còn có những 2 A Độ à, tôi nói: “Đương nhiên là A Độ của ta rồi, ngươi có thấy nàng ta không? Nàng ấy mặc y phục màu vàng, giống như một chú chim vàng anh nhỏ ấy.”

Hắn thong thả nói: “Mặc y phục màu vàng, giống như một chú chim vàng anh nhỏ——–ta cũng gặp một người như thế.”

“Người đó đang ở đâu?”

“Thì đang ở trước mắt ta đây.” Hắn áp sát tôi, gần kề đến nỗi tôi có thể nhìn thấy ánh hào quang rạng rỡ mà rất có hồn trong đôi mắt ấy, “Lẽ nào nàng không phải ư?”

Tôi cúi đầu nhìn lại quần áo của mình, tôi mặc một bộ y phục màu vàng nhạt của nam, giống với bộ của A Độ, kẻ này cũng thật quái gở quá.

Hắn nói: “Tiểu Phong, mấy năm không gặp, nàng vẫn vậy, chẳng thay đổi gì cả.”

Tôi không tránh khỏi giật nảy mình, Tiểu Phong là tên mụ của tôi mà, từ lúc đến Thượng Kinh, chưa từng có ai gọi tôi như thế cả.


Tôi chớp chớp mắt, có chút hoang mang nhìn hắn: “Ngươi là ai?”

Hắn cười nhạt, nói: “Ồ, nàng không biết ta là ai ư.”

“Ngươi là do cha ta sai đến à?” Tôi lại chớp chớp mắt nhìn hắn. Lúc sắp ra đi, cha tôi từng đồng ý sẽ cho người đến thăm tôi, đem đồ ăn ngon đến cho tôi. Kết quả cha nói mà chẳng giữ lời, bao lâu không hề sai người đến.

Hắn cũng không trả lời, chỉ hỏi: “Nàng muốn về nhà không?”

Đương nhiên tôi muốn về nhà rồi, có nằm mơ cũng toàn mơ thấy được về nhà.

Tôi lại hỏi hắn: “Người là do ca ca ta phái đến phải không?”

Hắn mỉm cười, hỏi tôi: “Nàng còn có anh trai à?”

Tôi đương nhiên có anh trai rồi, hơn nữa còn có những 5 người anh cơ mà, đặc biệt là ngũ ca, huynh ấy thương tôi nhất. Lúc tôi sắp phải ra đi, huynh ấy khóc một trận rõ to, còn dùng roi da quất tung tóe loạn xạ bùn cát trên sa mạc. Tôi biết huynh ấy bởi vì không nỡ rời xa tôi, không nỡ để tôi đến sống ở nơi xa là thế.

Thậm chí anh trai tôi mà người này cũng không biết, xem ra không phải do người nhà tôi phái đến rồi, tôi thoáng thất vọng. Hỏi hắn: “Sao ngươi biết tên ta?”

Hắn nói: “Là nàng từng nói với ta mà.”

Tôi nói với hắn á? Tôi có quen biết hắn à?”

Sao tôi chẳng có chút ấn tượng nào nhỉ.

Nhưng mà không hiểu vì sao, tôi chẳng hề cảm thấy gã này là kẻ lừa đảo. Có lẽ bởi vì không kẻ lừa đảo nào kì lạ đến thế, trên đời này mấy tay bịp bợm thường cố gắng sắm vai người bình thường, chính ra những kẻ đó mới không quái quái gở gở đấy, bởi lẽ quái gở chỉ tổ lộ ra sơ hở cho người ta vạch trần.

Tôi nghiêng đầu quan sát hắn, hỏi: “Ngươi rốt cuộc là ai?”

Hắn nói: “Ta là Cố Kiếm.”

Hắn không nói thêm gì nữa, dường như 4 chữ ấy đã đại diện cho tất cả.

Tôi căn bản nào đã nghe qua cái tên này, tôi nói: “Ta phải đi tìm A Độ đã.”

Hắn nói với tôi: “Ta tìm nàng đã 3 năm rồi, ngươi không nỡ thêm mấy lời với ta sao?”

Tôi cảm giác rõ lạ: “Sao ngươi lại tìm ta? Sao lại tìm ta những 3 năm? 3 năm trước ta quen ngươi sao?”

Hắn cười nhàn nhạt, nói rằng: “3 năm trước ta làm nàng giận bỏ đi, nên đành phải đi tìm, đến tận hôm nay mới tìm ra. Nhưng nàng đã không nhận ra ta gì cả.”

Tôi cảm giác hắn rõ là kẻ lừa đảo, đừng nói chuyện 3 năm trước nhé, mà kể cả chuyện của 20 năm trước tôi vẫn nhớ rõ rành rành đây này. Trí nhớ của tôi còn tốt lắm, lúc tôi 2-3 tuổi, lúc vừa mới biết nhận thức không lâu, còn nhớ được ối việc cơ đấy. Ví dụ như mẫu thân từng bón tôi ăn một loại tương quả chua ngoét tôi không thích ăn tí nào, hoặc như mẫu thân từng ôm tôi, ngóng nhìn phụ hoàng phi ngựa trở về, nắng ban mai mạ vàng trên thân thể phụ hoàng, như thể người đang mặc một bộ giáp trụ màu ánh kim oai phong lẫm liệt.

Tôi quyết định không thèm nói chuyện với hắn nữa. Tôi quay người bỏ đi, nàng A Độ này có thể đi đâu được chứ? Tôi vừa nghĩ vừa ngoái đầu nhìn thêm 1 cái, gã Cố Kiếm đó vẫn đứng đấy dõi theo tôi, vẫn ngóng theo không chớp mắt, thấy tôi nguẩy đầu, hắn lại còn cười với tôi nữa chứ. Hắn cười với tôi mấy lần rồi, đột nhiên tôi cảm thấy nụ cười ấy dường như lớp băng vụn phiêu diêu trên mặt nước, như thể cười với tôi, thực ra lại là chuyện khiến hắn khó chịu nhất vậy.

Đúng là một kẻ quái gở, còn già mồm bảo tôi quen hắn, tôi chẳng lẽ lại đi quen kẻ quái đản thế chắc.

Lúc tôi ra khỏi ngõ, mới nhìn ra A Độ đang ngồi bên cầu. Nàng ta ngây thuỗn nhìn tôi, tôi tra hỏi nàng ta: “Ngươi chạy đi đâu thế hả, ta lo muốn chết đây này.”

A Độ im lìm ngồi ở đó, tôi lay nàng ấy, nàng ấy vẫn không nhúc nhích. Lúc này gã Cố Kiếm kia đã bước tới, hắn ngoảnh mặt về phía A Độ, trong chớp mắt chỉ nghe thấy “hự” một tiếng nhẹ bẫng, A Độ liền “vụt” nhảy dựng lên, 1 tay tuốt chuôi Kim Thác Đao ra, tay kia kéo tôi giật lùi ra sau lưng nàng ấy.

Gã Cố Kiếm kia khoan thai cười nói: “3 năm trước chúng ta từng giao đấu rồi, vừa nãy ta chỉ dùng 1 ngón tay đã điểm được huyệt đạo của ngươi, lẽ nào ngươi chưa rõ ư? Nếu như ta thật sự muốn làm gì, dựa vào ngươi chắc chắn không thể cản được ta đâu”

A Độ không nói gì, chỉ hằn học lườm hắn, tư thế dường như gà mẹ bảo vệ gà con. Có lần Lí Thừa Ngân thật sự làm tôi tức đến phát điên lên, A Độ cũng từng trừng mắt với hắn ta như thế.

Tôi không ngờ tay Cố Kiếm này có thể điểm huyệt được A Độ, thân thủ của A Độ rất cao cường, người bình thường căn bản không thể tiếp cận được nàng ấy, chứ đừng nói đến khống chế được nàng ta một cách đơn giản, võ công của gã Cố Kiếm này rõ ràng là khó bề tưởng tượng. Tôi nghẹn họng nhìn hắn trân trối.

Thế nhưng hắn chỉ thở dài sườn sượt, ánh nhìn đặt vào thanh đao đã tuốt vỏ trong tay A Độ, với cả người đang thụt thò sau lưng A Độ là tôi đây… rồi hắn cũng liếc tôi lần cuối, sau cùng quay người bỏ đi.

Tôi ngóng theo cho đến khi hắn đã bỏ đi thật xa, trong ngõ hẹp trống vắng, cái gã Cố Kiếm quái đản đó cuối cùng bỏ đi mất hút. Tôi hỏi A Độ: “Người không sao chứ? Có bị thương không?”

A Độ lắc lắc đầu, dùng tay ra hiệu.

Tôi hiểu động tác đó có ý nghĩa gì, nàng ấy hỏi tôi có buồn không.

Sao tôi phải buồn chứ?

Tôi cảm giác nàng ta rõ là kì cục, liền ném cho nàng ấy1 cái lườm thật bén.

Sắc trời mỗi lúc một âm u, tôi dẫn A Độ lên Vấn Nguyệt lầu dùng cơm.

Lúc chúng tôi loanh quanh ở ngoài đường, chủ yếu là đến Vấn Nguyệt lầu ăn cơm, bởi vì món vịt nướng ở đấy ngon vô cùng.

Khi đã ngồi xuống ăn thịt nướng, có lão bá họ Hà hát rong dẫn theo cô con gái Phúc Thư Nhi cũng lên lầu. Bá Hà tuy là người mù, nhưng ngón nghề kéo đàn nhị thì tuyệt vời, mỗi lần đến Vấn Nguyệt lầu ăn uống, tôi đều nhờ Phúc Thư Nhi hát cho mấy bài.

Phúc Thư Nhi sớm đã trở nên thân quen với tôi, vái chào tôi và A Độ 1 lượt rồi gọi tôi: “Lương công tử.”

Tôi khách khí mời cô nương ấy hát 2 bài, cô bé ấy liền hát khúc “Ngắt lá dâu”

Ăn vịt nướng chín tới, ủ ấm bằng một hũ rượu hoa sen, lại được nghe Phúc Thư Nhi hát, quả là chuyện tốt đẹp nhất đời người.

Thịt nướng trên bếp vẫn đang xì xèo phát ra tiếng, A Độ dùng đũa chia thịt thành từng miếng, hơ thật kỹ rồi mới rưới nước tương lên, gắp vào đĩa của tôi. Tôi ăn thịt nướng, lại uống thêm một chén rượu hoa sen, lúc này có một đám người lên lầu, bước chân chúng đạp xuống sàn gác cứ “rầm rầm”, cười nói ồn ào, khiến người ta phải ngứa mắt.

Tôi bắt đầu tán gẫu với A Độ: “Người nhìn mấy kẻ kìa, vừa nhìn đã biết là loại không ra gì.”

A Độ nhìn tôi khó hiểu.

Tôi bảo: “Mấy kẻ này tuy mặc thường phục, nhưng kẻ nào cũng đi loại ủng mỏng có lót phấn, bên hông lại đeo đao, hơn nữa chúng hầu như đều mang bao cổ tay, ngón tay còn cái quấn da hươu. Lũ người này hẳn đã quen xỏ loại giầy thoải mái, thạo cung ngựa, đã thế lại đeo đao kiếm rêu rao khắp nơi….cái đức tính lòe loẹt diêm dúa này, khẳng định lũ này là Vũ Lâm lang.”

A Độ cũng không ưa bên Vũ Lâm lang, thế nên nàng ấy gật gật đầu.

Lũ Vũ Lâm lang ấy vừa ngồi xuống đã có 1 kẻ lớn tiếng gọi: “Này, hát rong! Qua đây hát bài [Lên dốc nhớ chàng] đi!” Bá Hà run rẩy chịu lỗi với chúng, thưa rằng: “Vị công tử này vừa chọn 2 bài, chỉ mới hát được 1 bài. Đợi hát xong, lũ tiểu nhân sẽ qua hầu mấy vị lang quân ạ.”

Gã Vũ Lâm lang đó vỗ bốp một cái lên bàn: “Láo xược! Cái gì mà hát xong với cả không hát xong! Mau qua đây hát cho bọn ông nghe, bằng không một đao nhà ta chẻ chết con mụ mù nhà mi bây giờ.”

Có kẻ liếc mắt với tôi, cười mím chi, bảo: “Mấy anh em nhìn gã tiểu tử kia kìa, da nhẵn mịn thịt mềm mại như con gái ấy, trông dáng vẻ quả thật khôi ngô.”

Vừa vừa nãy cũng liếc tôi 1 cái rồi cười: “Bảo khôi ngô, cũng khôi ngô đấy, còn đẹp hơn cả đứa con gái hát rong nọ. Này! Gã công tử xinh đẹp kia ơi, qua đây tiếp các ông đây 1 chén nào.”

Tôi thở dài, hôm nay tôi vốn không muốn gây lộn, nhưng xem ra khó tránh rồi. Tôi đặt đũa xuống, uể oải nói: “Tiệm tốt như thế này, sao thòi ở đâu ra cái loại vật không biết nói tiếng người thế? Thật sự làm người khác mất hứng!”

Lũ người đó vừa nghe đã nổi cơn tam bành, đập bàn rầm rầm: “Mi chửi ai?”

Tôi cười nhìn chúng: “Ồ, xin lỗi nhé, hóa ra các người không phải vật à.”

Cái gã thoạt đầu vừa chửi tôi không nhịn được đầu tiên, liền tuốt đao lao về phía chúng tôi. A Độ vỗ nhẹ bàn 1 cái, nào bát nào đĩa trên bàn không hề lay động, chỉ có ống đũa chấn động nảy tưng lên. Nàng ấy tiện tay rút ra chiếc đũa, ống đũa chưa kịp rơi xuống mặt bàn, thanh đao của hắn đâm xoẹt ngay trước mặt tôi. Khoảnh khắc nhanh như chớp mắt ấy, A Độ đã xọc đũa xuống, chỉ nghe thấy 1 tiếng gào thê thảm, kế tiếp là tiếng thanh trường đao rớt trên sàn “keng”, lòng bàn tay gã đó đã bị chiếc đũa ghim sống trên bàn, ngay tức khắc máu tuôn xối xả. Hắn vừa kêu la thảm thiết vừa giơ tay rút chiếc đũa, nhưng chiếc đũa xuyên qua lòng bàn tay đóng vào bàn, vững trãi như thể một chiếc đinh dài, rút thế nào cũng không xê dịch.

Đồng bọn của hắn cũng đồng loạt tuốt kiếm, dợm xông lên, tay A Độ đã đặt trên ống đựng đũa, ánh mắt lạnh lùng lướt qua chúng một lượt. Đám người bị khí thế của A Độ làm cho khiếp sợ, lại không dám tiến lên.

Kẻ bị đóng đing trên bàn vẫn đang kêu la như một con lợn bị chọc tiết, tôi thấy hắn kêu đến là phiền phức, bèn tiện tay kẹp chiếc bánh hoa quế bịt mồm hắn, hắn bị nghẹn trợn tròn cả mắt, cuối cùng thì cũng không gây ồn áo nữa.

Tôi cầm đôi đũa vừa mới gắp bánh hoa quế, vỗ nhẹ đầu đũa vào lòng bàn tay, nhìn quanh, hỏi chúng: “Bây giờ các ngươi, kẻ nào còn muốn uống rượu với ta nữa nào?”

Đám người bị hù dọa cho 1 phen, dù tức giận mấy cũng không dám bước lên. Tôi đứng dậy, tiến lên 1 bước, bọn chúng liền thụt lùi 1 bước, tôi tiến thêm bước nữa, bọn chúng cũng giật lùi bước nữa, thối lui cho đến tận phía cầu thang, có kẻ đã hô to: “Chạy mau!” Cả lũ hốt hoảng như ong vỡ tổ chạy sạch xuống dưới lầu.

Chẳng thú vị cái gì cả… Tôi còn chưa kịp nói với chúng, tôi nào có biết dùng đũa đâm người như A Độ đâu, tôi chỉ dọa dẫm có tí thôi mà.

Tôi ngồi xuống bàn, ăn tiếp món thịt nướng, gã ban nãy bị ghim trên bàn vẫn đang chảy máu không ngừng, mùi máu tanh xộc lên rất khó chịu, tôi hơi cau mày. A Độ hiểu ý tôi, nàng ta rút chiếc đũa ra, rồi đá kẻ đó một cái. Hắn bưng lòng bàn tay bị thương, bò lê bò càng chạy xuống cầu thang, đến đao hắn cũng quên cầm. A Độ dùng mũi chân khều nhẹ, thanh đao nảy lên trong tay, rồi dâng cho tôi xem. Chỗ chúng tôi có tập quán, kẻ bại trận phải bỏ kiếm ở lại, A Độ theo tôi đến Thượng Kinh đã 3 năm, vẫn chưa quên được tập tục cũ của cố hương.

Tôi thấy trên chuôi đao khắc chữ đồng, không kìm được lại chau mày.

A Độ không hiểu cái chau mày ấy có ý gì, tôi đưa thanh đao cho A Độ, bảo: “Trả hắn đi.” Lúc này gã kia đã bò đến đầu cầu thang, A Độ phất tay 1 cái, thanh đao “coong” một tiếng, phập vào cây cột trụ bên cạnh hắn. Kẻ đó thất thanh rú lên, thậm chí đầu cũng không dám ngoảnh lại, đã lộn nhào xuống cầu thang như 1 trái tú cầu.

Từ Vấn Nguyệt lầu đi ra, cũng là lúc đường phố nhuộm thắm ánh trăng, trăng sáng trĩu cong trên ngọn cây, ánh trăng no tròn đầy đặn tỏa ra xuyên suốt, dường như chiếc bánh gạo bị ai đó gặm mất 1 miếng. Tôi đã ăn no nê, thậm chí bụng còn phình lên hơi chướng, mặt mày ủ ê ôm bụng, lếch tha lếch thếch từng bước theo sau A Độ. Cứ cái kiểu ốc sên bò này của tôi thì chỉ sợ phải đến sáng mới trở về được.

Nhưng mà A Độ rất nhẫn nại, luôn luôn 1 bước đi 1 bước nghỉ để đợi tôi đuổi kịp. Chúng tôi vừa mới đi đến góc quẹo đầu đường, đột nhiên trong bóng đêm “phần phật” bổ nhào ra 1 đống người, bọn dẫn đầu tay lăm lăm đao kiếm sáng lóa, còn có kẻ hò hét mở đường: “Chính chúng nó!”

Nhìn kỹ thì ra là bọn Vũ Lâm lang vừa mới rồi, lúc này đã gọi theo một đám viện binh tới.

Tại sao lần nào ra ngoài đi loanh quanh cũng phải đánh nhau thế nhỉ? Tôi cảm thấy bản thân mình căn bản xưa nay nào có phải kẻ thích gây sự sinh chuyện gì đâu cơ chứ!”

Nhìn cả lũ lúc nhúc ấy, cũng phải đến trăm tên, tôi thở dài ngao ngán.

A Độ dằn thanh Kim Thác Đao, nhìn tôi như thể hỏi dò.

Tôi cũng không nói với A Độ, chữ khắc trên thanh đao ban nãy khiến tôi tụt cả hứng đánh nhau. Mà đã không đánh thì đương nhiên phải đánh bài chuồn—-Chạy đi chứ!

Tôi và A Độ lồng chạy như điên cả chặng đường, gây lộn 2 chúng tôi tuyệt nhiên không dám xưng bậy thành đệ nhất thiên hạ, nhưng luận đến tháo chạy thì trong kinh thành này chúng tôi nếu tự nhận đệ nhị, có lẽ cũng chẳng kẻ nào dám xưng danh đệ nhất.

3 năm này chúng tôi ngày nào chẳng chạy tới chạy lui ở bên ngoài, kinh nghiệm bị người ta đuổi, bị người ta tìm quả thực phong phú lắm, lúc xuất phát bỏ chạy thì chuyên chọn ngõ nhỏ hoang vắng, cứ chạy tỏa đi 4 phương 8 hướng, chẳng mấy mà đã cắt được cái đuôi đằng sau.

Nhưng mà lần gặp phải bọn Vũ lâm lang này cũng tưởng thật không còn gì, chúng đuổi sát sít ngay đằng sau, đuổi đến nỗi tôi và A Độ lách mấy vòng rồi mà vẫn chưa cắt được đuôi….Tôi ăn no ứ bụng, lại bị lũ vô lại ấy đuổi theo cả một lúc lâu, sắp ói ra đến nơi rồi. A Độ kéo tôi từ ngõ nhỏ xuyên ra 1 con đường, thế mà ngay trước mặt có 1 nhóm binh mã lao về phía chúng tôi, từ xa thấy đám người ấy hình như cũng là Lâm Vũ lang.

Không phải lũ đốn mạt này sớm đã đặt sẵn phục binh đấy chứ? Tôi chống đầu gối thở hồng hộc, kiểu này không đánh nhau là không xong rồi.

Tiếng ồn ào sau càng lưng lúc càng áp kề, lũ khốn nạn ấy đã đuổi kịp. Đám quân binh phía trước lăm lăm đèn đuốc cũng ập đến ngay trước mặt, kẻ dẫn đầu cưỡi bạch mã khá cao to, tôi đột nhiên nhận ra người này mình vậy mà lại quen, không kìm được mừng vui quá đỗi: “Bùi Chiếu! Này Bùi Chiếu!”

Bùi Chiếu cưỡi trên mình ngựa cũng chưa kịp nhìn rõ, chỉ ngờ vực liếc về phía tôi mấy cái. Tôi vừa nhảy lên gào to tên hắn, người bên cạnh hắn nhấc đèn lồng tiến lên một bước, soi tỏ mặt tôi.

Tôi thấy Bùi Chiếu loáng một cái đã phi thân từ trên ngựa xuống, chỉnh tề thẳng thắn hành lễ với tôi: “Thái….”

Tôi không đợi hắn nói thêm 2 chữ tiếp theo, đã vồn vã ngắt lời: “Thái cái gì mà thái? Đằng sau có lũ vô lại đang đuổi ta, mau giúp ta cản chúng đi!”

Bùi Chiếu thưa: “Tuân lệnh!” rồi đứng lên, rút thanh trường kiếm bên mình ra, gằn tiếng ra lệnh: “Nghênh địch!”

Đám người phía sau cũng nhất loạt “sột soạt” tuốt đao, kịp lúc lũ vô lại kia đuổi theo đến nơi, thấy phía này đèn đuốc sáng trưng một mảng, có Bùi Chiếu giương kiếm dẫn đầu, không thể không kìm bước chân. Mấy gã đi đầu còn gắng gượng nở một nụ cười, nhưng răng lợi vẫn nghiến kèn kẹt: “Bùi…Bùi…Bùi tướng quân…”

Bùi Chiếu thấy cả lũ Vũ Lâm lang, mặt không cầm được đã thảng thốt biến sắc, hỏi: “Các người đang làm gì ở đây?”

Bùi Chiếu là Kim ngô tướng quân, chuyên tư chức cai quản Vũ Lâm lang. Đợt này lũ lưu manh kia không tránh khỏi bất hạnh rồi, nhân lúc bọn chúng không để ý, tôi vui sướng kéo A Độ đành bài chuồn là thượng sách.

Tôi cùng A Độ trèo tường quay trở về, khinh công của A Độ đúng là phi phàm, tường cao mấy nàng ta chỉ cần nhẹ nhàng dìu tôi 1 cái, thế là chúng tôi đã vọt qua trong im hơi lặng tiếng. Đêm về khuya, bốn bề lặng ngắt như dọa người. Chỗ này vừa to lại vắng, lúc nào cũng kiểu tĩnh mịch.

Chúng tôi như 2 con chuột nhắt, lẳng lặng lẻn vào. Chung quanh tối om một mảng, chỉ có nơi xa xa mới dập dềnh vài đốm đèn đuốc. Sàn phủ một lớp nỉ rất dầy, giẫm lên mềm mại lại không gây tiếng động, tôi lần mò vào giường, ôi chiếc giường dễ chịu của tôi ơi….nhớ đến nó mà tôi không kìm được ngáp dài một cái: “Buồn ngủ quá đi…”

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 11 Mar 2015 02:47 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47724
Thanks: 321
Thanked: 29450 times
Chương 2


A Độ đột nhiên nhảy dựng lên, nàng ta vừa nhảy tôi cũng giật mình nảy theo. Lúc này bốn bề chợt sáng bừng, có người châm nến, còn có một đám khác cầm đèn lồng ùa vào, đi đầu chính là Vĩnh Nương. Từ đằng xa bà ấy đã nước mắt lưng tròng quỳ sụp xuống: "Thái tử phi, xin người hãy ban cho nô tì tội chết."

Tôi ghét nhất có người quỳ, lại càng ghét Vĩnh Nương, tôi ghét người ta cứ gọi tôi là Thái tử phi, tôi ghét vô cùng cái kiểu hở 1 tý lại tội chết này tội sống nọ.

"Ôi dào, ta không phải đã bình an trở về rồi đấy thôi."

Mỗi lần tôi trở về Vĩnh Nương lại tái diễn cái màn này, bà ta không ngấy nhưng tôi thì phát ngấy rồi. Quả nhiên Vĩnh Nương đã lau nước mắt, rồi lập tức sai cung nữ giúp tôi tắm gội chải đầu, lột bộ nam trang của tôi ra mà không cho phân bua gì, thay cho tôi bộ y phục 3 lớp trong 3 lớp ngoài mà tôi căm ghét nhất, choàng hết áo này đến áo nọ như thể một miếng bánh nhiều lớp, bóc vỏ cả nửa ngày vẫn chưa thấy được đậu phộng đâu.

Vĩnh Nương nói với tôi: "Mai là sinh nhật của Triệu lương đệ, Thái tử phi chớ quên, dù sao vẫn phải hơi tỏ vẻ mới được."

Tôi gà gật trong cơn ngái ngủ, đám cung nữ vẫn giúp tôi rửa mặt, vạt áo trước quấn một chiếc khăn to, mái tóc buông xõa sau lưng được bọn họ dùng lược ngà chải chuốt rất cẩn thận, càng chải càng khiến tôi lừ đừ buồn ngủ. Tôi thấy mình giống như 1 con rối, phó mặc bọn họ thao túng, Vĩnh Nương xì xào nói rất nhiều chuyện, bởi lẽ cứ lịm dần vào giấc ngủ nên tôi chẳng nghe lọt tai câu nào.

Tôi ngủ một giấc rất say, vừa ăn no nê, lại bị người ta rượt đuổi suốt nửa đêm, chạy tới chạy lui khổ cực lắm. Đúng lúc tôi đang ngon giấc, đột nhiên "rầm" một tiếng rất lớn, tôi choàng mở mắt thấy trời đã sáng trưng thì cũng tỉnh táo hẳn, vậy ra tôi ngủ một mạch đến tận lúc trưa trờ trưa trật. Tôi thấy Lí Thừa Ngân giận đùng đùng xông vào, Vĩnh Nương dẫn theo đám cung nữ thất kinh hồn vía quỳ lạy nghênh tiếp.

Tôi đầu bù tóc rối đến mặt còn chưa lau, nhưng vẫn đành bò dậy khỏi giường, cũng không phải vì sợ Lí Thừa Ngân đâu nhé, mà là nếu như nằm trên giường cãi nhau với hắn, như thế cũng thật thiệt thòi quá, mất hết cả khí thế.

Hắn hiển nhiên khởi giá đến để vấn tội, lạnh lùng nhìn tôi mà buông lời: "Nàng vẫn còn ngủ được cơ à?"

Tôi ngáp một cái rõ dài, rồi mới nói: "Sao thần thiếp lại không thể ngủ nào?"

"Loại nữ nhân như nàng sao lại nham hiểm đến thế?" Hắn cau mày nhìn tôi, ánh mắt ấy dường như 2 mũi tên vô hình, cắm phập thành 2 cái lỗ trên người tôi, "Nàng đừng có cố làm ra vẻ nữa!"

Chiêu thức này không giống với mọi lần chúng tôi gây gổ, tôi cảm giác chẳng hiểu đầu cua tai nheo gì cả: "Điện hạ làm sao vậy?"

"Sao vậy à?" Hắn nghiến răng nghiến lợi nói, "Triệu lương đệ vừa ăn xong mì mừng thọ nàng ban cho đã nôn thốc nôn tháo, sao dụng tâm của nàng có thể hiểm độc đến thế?"

Tôi trợn trừng mắt với hắn: "Thiếp chẳng ban mì mừng thọ cho ai cả, ai ăn vào bị đau bụng thì liên quan gì đến thiếp!"

"Dám làm không dám nhận à?" hắn tỏ giọng khinh thường, "Thì ra nữ tử Tây Lương, rặt là loại vô liêm sỉ như thế!"

Tôi nổi cơn tam bành, Lí Thừa Ngân và tôi hục hặc đã 3 năm rồi, hắn thừa biết cách chọc tức tôi, tôi nhảy dựng lên: "Con gái Tây Lương mới không làm không dám nhận, thiếp đây chẳng làm gì, sao phải nhận chứ? Con gái Tây Lương xưa nay hành sự ngay thẳng, đừng có nói chỉ mình Triệu lương đệ, thiếp một khi đã muốn giết ai, chỉ cần xách kiếm đi hỏi tội họ, chứ không thèm chơi cái trò hạ độc sau lưng xấu xa này đâu! Trái lại với điện hạ đấy, chưa hỏi phải trái đã vu oan cho người khác, điện hạ còn đường đường cho mình là hảo hán Thượng Kinh sao?"

Lí Thừa Ngân tức tối nói: "Nàng đừng tưởng ta không dám phế nàng! Dù cho có phải liều mình với cái địa vị thái tử này, ta cũng không khoan dung nổi loại rắn độc như nàng!"

Tôi dứt khoát nhả ra 4 chữ: "Theo ý chàng vậy."

Lí Thừa Ngân bực tức phẩy áo bỏ đi, tôi cũng tức đến tỉnh cả ngủ, hơn nữa bụng cũng hơi lạo xạo cơn đau, A Độ xoa cho tôi. Vĩnh Nương vẫn quỳ nguyên xi ở đó, quả nhiên bà ấy bị dọa chết khiếp, toàn thân run lên cầm cập. Tôi nói: "Kệ hắn đi, năm nào hắn chẳng phao tin sẽ phế ta, năm nay còn chưa nói đấy."

Vĩnh Nương lại khóc rưng rức: "Thái tử phi thứ tội....mì mừng thọ đó là do nô tì sai người ban tặng...."

Tôi thất kinh, Vĩnh Nương thưa: "Nhưng nô tì thật sự không mưu mô gì cả, nô tì chỉ nghĩ rằng, hôm nay mừng sinh nhật của Triệu lương đệ, nếu như Thái tử phi không ban thưởng gì đó thì dường như có chút....có chút...Thái tử phi còn đang kê cao gối ngủ chưa tỉnh, nô tì đã tự tiện quyết định, sai người ban ít mì trường thọ, chẳng ngờ Triệu lương đệ ăn vào lại nôn lên nôn xuống... Xin Thái tử phi phạt nô tì tội chết...."

Tôi dửng dưng nói: "Chúng ta đã không giở trò gì, vậy ả ta đau bụng thì có liên quan gì đến chúng ta, cái gì mà tội sống với cả tội chết. Ngươi mau đứng lên đi, quỳ mãi ở đó khiến ta ghét chết đi được."

Vĩnh Nương tuy đã đứng dậy, nhưng vẫn nước mắt lưng tròng: "Thái tử phi, chữ đó là kiêng kị, người không thể tùy tiện nói được."

Cũng chỉ là 1 chữ "chết" thôi chứ gì? Đời này ai mà chẳng không chết? Mấy cái quy củ phép tắc ở Đông Cung rõ đáng ghét, cái này không được nói cái kia không được làm, tôi bức bối sắp chết đến nơi rồi đây.

Bởi lần nôn thốc nôn tháo ấy của Triệu lương đệ mà ả không được dịp mừng thọ vui vẻ. Lí Thừa Ngân cuối cùng không nuốt trôi cơn tức này, đại náo 1 trận. Hắn muốn phế tôi cũng khó có cửa, chưa cần đến phụ hoàng hắn mắng mỏ, thì bên thái phó đã ngăn cản. Nhưng tôi vẫn xui xẻo, bị Lí Thừa Ngân tố cáo tội trạng trước mặt Thái hoàng thái hậu, Thái hoàng thái hậu sai người ban đến vài bộ sách nào là "Nữ Huấn", "Nữ giới", phạt tôi mỗi cuốn phải chép 10 lần. Tôi bị nhốt trong phòng, kêu trời không hay, gọi đất không thiêng, chép liên tùng tục đến mấy ngày, chép đến nỗi nhũn nhữ cả tay mà mãi chưa chép xong.

Lúc đã chép được đến lần thứ 5, Vĩnh Nương vào bẩm báo với tôi một tin, một cung nữ hầu hạ Lí Thừa Ngân là Tự Nương đã có tin vui, đợt này Triệu lương đệ hẳn phải cam chịu rồi.

Tôi khó hiểu hỏi bà ấy: "Có tin vui là cái gì thế?"

Vĩnh nương xém chút thì tắc thở, bà ấy vòng vèo giảng giải cho tôi đến nửa ngày, tôi mới chợt tỉnh ngộ, ồ thì ra có tin vui chính là có em bé đấy à.

Tôi khấp khởi muốn đi xem chuyện hay ho, đến Thượng Kinh đã mấy năm rồi, tôi vẫn chưa được chứng kiến tận mắt người quen sinh em bé, chuyện hiếm hoi thế này tôi đương nhiên phải đi góp vui chứ. Kết quả bị Vĩnh Nương sống chết can bằng được: "Thái tử phi ơi, người không nên đi! Nghe nói Thái tử điện hạ đã từng đáp ứng với Triệu lương đệ rằng, tuyệt đối sẽ không hai lòng. Ngày hôm đó Thái tử điện hạ chắc là say rồi nên mới sủng ái Tự Nương. Bây giờ Triệu lương đệ đang khóc lóc om sòm, ồn ào chẳng vui vẻ gì. Nếu như Thái tử phi lúc này đi thăm Tự Nương, Triệu lương đệ sẽ cho rằng Thái tử phi đang cố ý thị uy...."

Tôi thật sự không hiểu, vì sao Vĩnh Nương lại nghĩ như thế, tất cả bọn người trong Đông Cung đều kiểu quái đản kì lạ, lối suy nghĩ của bọn họ lúc nào cũng quẩn quanh toan tính. Tôi thở dài, Vĩnh nương nói Triệu lương đệ sẽ như thế, nói không chừng nàng ta nghĩ thế thật, tôi không muốn cãi nhau với Lí Thừa Ngân nữa đâu, hắn mà mách tội tôi với Thái hoàng thái hậu lần nữa, thể nào cũng phạt tôi chép sách chép đến chết luôn.

Tối hôm đó, Hoàng hậu triệu tôi tiến cung.

Ít khi tôi đi vấn an Hoàng hậu mà chỉ có 1 mình, lần nào cũng là đi cùng với Lí Thừa Ngân. Mấy lời Hoàng hậu hay nói với tôi cũng chỉ giới hạn ở "bình thân" "ban ngồi" "lui về nghỉ ngơi đi". Lần này người triệu kiến mỗi mình tôi, Vĩnh Nương tỏ vẻ rất bất an, bà ấy tự mình đưa tôi đi tham kiến Hoàng hậu.

A Độ chầu ngoài điện Vĩnh An đợi tôi, bởi vì nàng ấy không muốn tháo thanh kiếm ngọc khỏi người, lại càng không nỡ đứng cách tôi quá xa.

Thực ra dung mạo Hoàng hậu rất đẹp, tuy người không phải mẹ thân sinh ra Lí Thừa Ngân, thân sinh ra Lí Thừa Ngân là Thục phi, nghe đồn là một mỹ nhân tài mạo song toàn, được hoàng đế sủng ái, tiếc thay vừa hạ sinh Lí Thừa Ngân không bao lâu sau đã bạo bệnh qua đời. Hoàng hậu không có con, liền ẵm Lí Thừa Ngân vào cung nuôi nấng cho đến lúc trưởng thành, sau đó Lí Thừa Ngân danh chính ngôn thuận trở thành Thái tử.

Hoàng hậu nói với tôi một đoạn dài, thú thực tôi cũng chẳng hiểu lắm, vì lời lẽ ấy nho nhã quá... Hoàng hậu có lẽ cũng nhận ra biểu cảm tôi như thể lạc vào lớp mây mù, cuối cùng chỉ thở dài sườn sượt: "Chung quy con vẫn quá thơ dại, chuyện ở Đông Cung, sao chẳng mảy may để tâm nào thế? Thôi được rồi, ta sẽ cho người chỉnh đốn lại yên tĩnh trong cung, truyền Tự Nương kia tiến cung chờ sinh vậy. Còn chỗ Triệu lương đệ, con cũng nên động viên một chút, đừng để Ngân Nhi phiền lòng."

Mấy câu phổ thông này thì tôi cũng được gọi là hiểu. Hoàng hậu căn dặn Vĩnh Nương thêm ít lời, người vẫn nói kiểu văn phong câu lệ, tôi đoán chừng đang phê phán Vĩnh Nương chỉ bảo tôi không đến nơi đến chốn, bởi lẽ Vĩnh Nương mặt như tro nguội, quỳ sụp, nói không ngớt lời: "Nô tì tội chết."

Vấn an Hoàng hậu rất nhàm chán, nghe răn dạy còn vô vị hơn. Tôi len lén dùng đầu ngón chân khoanh thành mấy vòng tròn trên thảm, thảm trải sàn ở đây đều là cống phẩm của Thổ Hỏa La, lớp lông nhung dài mượt chạm vào chân êm như chạm vào tuyết, khoanh thêm 1 vòng tròn, hoa trên thảm hiện một mảng trắng dã, khoanh theo hướng ngược lại, lớp lông trên hoa văn đã khôi phục lại màu sắc ban đầu...Cứ dùng mũi chân vẽ vời, hoa nở rồi lại trắng....Tôi đang chơi vui vẻ, đột nhiên nghe Hoàng hậu ho khan một tiếng, ngẩng đầu lên thấy người đang nhìn chằm chằm vào tôi.

Tôi vội vã chỉnh lại tư thế ngồi, khép nép rụt chân vào trong váy.

Từ Vĩnh An điện đi ra, Vĩnh Nương nói với tôi: "Thái tử phi ơi, người thương xót nô tì với, người cứ hấp tấp gây chuyện như thế, nô tì chết cũng chẳng ai thương...."

Tôi mất kiên nhẫn nói: "Biết rồi biết rồi, mấy ngày nay ta bị nhốt trong phòng chép sách, có gây chuyện gì đâu nào!"

Vĩnh Nương vỗ về tôi nói: "Thái tử phi mấy ngày nay thực sự vô cùng hiểu chuyện, nhưng mà Hoàng hậu đã căn dặn Thái tử phi đi an ủi Triệu lương đệ, Thái tử phi nhất định phải đi mới được."

Tôi buồn tẻ xòe đầu ngón tay mình, hậm hực nói: "Lí Thừa Ngân không cho ta đến gần nơi có người đó đâu, ta không nên đi thăm nàng ta thì hơn, kẻo Lí Thừa Ngân lại tìm ta gây sự mất."

"Lần này khác, lần này Thái tử phi phụng ý chỉ của Hoàng Hậu, có thể quang minh chính đại đến thăm Triệu lương đệ. Hơn nữa nhân cơ hội này, Thái tử phi nên đứng về phía Triệu lương đệ, Triệu lương đệ đang phiền não việc Tự Nương, nếu như Thái tử phi chỉ cần hơi tỏ ý kết giao thôi, Triệu lương đệ ắt hẳn sẽ cảm thấy vô cùng cảm kích. Nếu mà lúc này Thái tử phi có thể hữu hảo với Triệu lương đệ, đến sau này cho dù Tự Nương hạ sinh được con trai, chắc chắn cũng không gây nên sóng gió gì...."

Tôi không hiểu trong đầu Vĩnh Nương cả ngày nghĩ những gì, nhưng mà trước kia bà ấy là cung nữ thân tín bên Thái hoàng thái hậu, trước khi tôi chính thức được sắp phong thành Thái tử phi, bà ấy được cử đến giúp tôi học lễ nghi đại lễ sắc lập. Rồi sau đó bà ấy cũng cùng tôi trải qua quãng ngày tháng khốn khổ nhất trong Đông Cung, lúc đó Lí Thừa Ngân đối với tôi hoàn toàn thờ ơ lãnh đạm, trong Đông Cung rặt những cái nhìn bợ đỡ, tôi vừa mới đến, lại là người Tây Lương, động một tí lại bị người ta cười nhạo, đến kẻ hầu người hạ nội cung cũng cả gan ức hiếp tôi. Tôi nhớ nhà, nhớ đến kinh khủng, cả ngày chỉ biết ôm A Độ khóc, khóc chán chê mê mỏi thành ra đổ bệnh nặng, Lí Thừa Ngân còn quả quyết tôi giả ốm, không cho người báo phủ Thái Y lẫn trong cung. Dây dưa đến tận lúc nằm liệt giường không ăn uống được gì, chỉ có Vĩnh Nương và A Độ thủ bên giường, bón cho tôi từng thìa thuốc một, cương quyết cướp tôi từ chỗ Diêm Vương về.

Thế nên mặc dù có lúc cách nghĩ của bà ấy khá kì quái, tôi vẫn có chút thuận theo, nói cho cùng trong Đông Cung, trừ A Độ ra, thì có Vĩnh Nương là thật lòng nghĩ tốt cho tôi.

"Thế cũng được, ta đi thăm nàng ta vậy."

"Không những chỉ đi thăm hỏi, mà Thái tử phi cũng nên ban tặng cho Triệu lương đệ vài món lễ vật quý hiếm, rồi từ từ lung lạc thị."

Lễ vật quý hiếm, thứ gì mới là lễ vật quý hiếm?

Tôi trầm tư suy nghĩ.

Sau cùng tôi trịnh trọng chọn ra 1 bộ cung tên của Cao Xương tiến cống, 2 hộp cờ bằng ngọc thạch, vài đôi tay nạng cầm chơi, còn có rượu thược dược do Bài Di dâng nạp. Lúc Vĩnh Nương thấy những thứ đó, mặt mày tỏ vẻ cực kì cổ quái.

"Chậc....Những thứ này ta cảm thấy đều là những đồ khá quý hiếm." Tôi liếc liếc sắc mặt Vĩnh Nương, "Ngươi cảm thấy không ổn à?"

Vịnh Nương thở dài, thưa rằng: "Dạ bẩm, để nô tì giúp Thái tử phi chọn mấy món lễ vật."

Sau đó, những đồ Vĩnh Nương chọn tôi cũng không xem qua, cái gì mà vòng ngọc Hòa Điền dát vàng, trâm cài đầu bằng vàng ròng đính ngọc phỉ thúy, thoa san hô khảm hồng ngọc hình trăng khuyết, chuổi hạt ngọc trai có hình lân....sau đó lại còn cao yến, bột hoa nhài gì gì nữa, không phải vàng rực thì cũng thơm nồng. Quả thực tôi không hề cảm thấy những thứ đó là đồ hiếm lạ tốt đẹp gì, nhưng Vĩnh Nương chắc ăn nói rằng: "Triệu lương đệ nhất định sẽ hiểu tấm lòng của Thái tử phi."

Nhưng mà tôi khá là mong ngóng lần gặp mặt với Triệu lương đệ này. Tôi chỉ nhìn qua Triệu lương đệ có 1 lần, đó là ngày thứ 2 sau khi tôi được sắc lập làm Thái tử phi, nàng ta được tấn phong làm lương đệ, theo đại lễ phải đến yết kiến tôi. Toàn bộ ấn tượng của tôi về nàng ta chỉ là 1 người con gái mặc trang phục hoàng tộc, chìm trong đám đông đang quây quần hành lễ, mà cũng bởi khoảng cách quá xa, tôi cũng không nhìn rõ nàng ta hình dạng ra sao.

Có điều, Lí Thừa Ngân thật sự thích nàng ta. Nghe nói hắn vốn không muốn lấy tôi, là Hoàng hậu đã hứa, lập tôi thành Thái tử phi rồi, hắn mới có thể phong Triệu lương đệ lên làm lương đệ, thế nên tôi biến thành cái kẻ đáng ghét nhất. Lí Thừa Ngân chỉ lo lắng tôi sẽ ức hiếp Triệu lương đệ, thế nên thường ngày không để nàng ta đến điện chỗ tôi, càng không cho phép tôi được đến viện chỗ nàng ta. Không hiểu hắn nghe ai xàm tấu, nói nữ tử Tây Lương bản tính quen đố kỵ, còn biết phù phép bỏ bùa hại người, thế nên mỗi lần cãi nhau, chỉ cần tôi vừa nhắc đến Triệu lương đệ, hắn đã như con mèo bị giẫm phải đuôi nhảy dựng lên, riêng sợ tôi thật sự đi ức hiếp Triệu lương đệ.

Có những lúc tôi thật sự hơi đố kỵ với Triệu lương đệ, mà không hẳn là ghen với những cái nàng ta có, chỉ là ghen vì có người lại đối với nàng ta như vậy. Tôi một thân một mình ở Thượng Kinh, bơ vơ không nơi nương tựa, Vĩnh Nương mặc dù đối với tôi là tốt đấy, nhưng tôi lại không thể bắt chuyện được với bà ấy, thậm chí có những lời tôi nói bà ấy nghe không vào.

Ví dụ như người Tây Lương chúng tôi vào ban đêm gió "xào xạc" lướt qua lau sậy, chúng tôi rong ngựa chạy một mạch trên sa mạc bao la. Mà màn đêm màu xanh tím lại gần gũi vô cùng, trong suốt vô cùng, mịn màng vô cùng, dường như là món thạch nho vị thanh thanh mát lạnh, nhâm nhi một miếng, cảm nhận như nó đang hiển hiện ngay bên khóe miệng. Vĩnh nương còn chưa được nhìn thấy quả nho, thì làm sao có thể hiểu được thạch nho là như thế nào. A Độ mặc dù hiểu lời tôi nói đấy, nhưng dù tôi có nói đến sùi bọt mép thế nào đi chăng nữa, nàng ta nhiều nhất cũng chỉ lẳng lặng nhìn tôi. Mỗi lần như thế, tôi lại nhớ nhà kinh khủng, nhớ Tây Lương ồn ào náo nhiệt của tôi. Càng nhớ Tây Lương, tôi lại càng ghét nơi Đông Cung lạnh lẽo mà lặng ngắt như tờ này.

Tôi và Vĩnh Nương đi thăm Triệu lương đệ vào một chiều nắng ráo, theo hầu phía sau còn có mười hai đôi cung nữ, có người cầm lồng xông hương, có người phe phẩy quạt lông gà, lại có người bưng tráp gấm đựng lễ vật. Đội ngũ như thế đi đi lại lại trong Đông Cung quả thực khiến người ta phải chú ý. Đến viện của Triệu lương đệ, nàng ta chừng như sớm đã nghe người bẩm báo rằng tôi sắp đến, thế nên cửa chính rộng mở, phục sẵn ở thềm đợi tôi.

Trong phủ nàng ấy có trồng một gốc cây quất rất thơm, những trái quất non kết thành từng chùm xanh mơn mởn, hệt như vô số cụm đèn lồng nhỏ xinh. Tôi xưa nay chưa từng được chứng kiến, lại cảm giác thấy hay hay, ngoái qua xem. Ngay lúc phân tâm, tôi không chú ý đến dưới chân, lại đạp lên váy mình, "soạt" một cái đã té ngã.

3 năm nay mặc dù tôi khổ tâm luyện tập, vậy mà vẫn thường xuyên giẫm phải vạt váy. Quả này tôi ngã chẳng ra làm sao cả, Triệu lương đệ vội vàng tiến lên đỡ tôi: "Tỷ tỷ! Tỷ không sao chứ ạ?"

Thực ra tôi còn nhỏ hơn nàng ta đến hai tuổi... nhưng mà được nàng ta dìu, tôi vẫn còn đang cắn răng chịu đựng, đau quá ấy chứ.

Triệu lương đệ dìu tôi vào tận trong điện, sau đó sai người đi pha trà.

Quả ngã ấy thật sự rất đau, tôi ngồi trên ghế không dám nhúc nhích, nhúc nhích 1 cái thôi là sẽ đau nhức nhối rồi.

Vĩnh Nương chớp thời cơ lệnh cung nữ trình lễ vật lên, Triệu lương đệ đứng dậy hành lễ với tôi: "Cảm tạ tỷ tỷ ban tặng, tiểu muội thẹn không dám nhận."

Tôi không biết phải nói gì mới được, may có Vĩnh Nương, bà ấy liền đỡ Triệu lương đệ dậy: "Xin Lương đệ đứng dậy, thực ra Thái tử phi luôn muốn đến thăm Lương đệ, chỉ là chưa có dịp. Lần này Hoàng hậu sai người đón Tự nương nhập cung, Thái tử phi lo lắng Lương đệ ở đây không có ai chăm sóc, thế nên ngày hôm nay mới có ý đến thăm. Mấy thứ lễ vật này, là do Thái tử phi dày công chọn lựa, mặc dù có chút đơn sơ, nhưng cốt ở cả tấm lòng. Sau này nếu như Lượng đệ thiếu thứ gì, chỉ cần dặn dò người qua lấy, ở Đông Cung này, Thái tử phi xem Lương đệ như tỷ muội thân thiết, chỉ mong Lương đệ không cảm giác xa cách."

Triệu lương đệ thưa: "Tấm lòng quý mến của tỷ tỷ, tiểu muội đã hiểu."

Nói thật là, những gì bọn họ nói, tôi nửa hiểu nửa không, chỉ cảm thấy ngột ngạt bức bối. Nhưng mà Triệu lương đệ hóa ra không xinh đẹp như tôi tưởng tượng, chẳng qua nàng ta hòa nhã, nói lời dịu dàng êm ái, mặc dù tôi cũng chẳng ưa nàng ta, nhưng cũng cảm giác không thể nào ghét được.

Tôi ở phủ Lương đệ cả một buổi chiều, nghe Vĩnh Nương hầu chuyện Triệu lương đệ. Triệu lương đệ hình như rất quý Vĩnh Nương, bà ấy nói hết chuyện đến chuyện nọ, Triệu lương đệ nghe rồi che tay áo mà cười, sau đó Triệu lương đệ còn khen ngợi tôi, khen tôi có người cung nữ đắc lực đến thế.

Từ phủ Triệu Lương đệ ra về, tôi gặp Bùi Chiếu. Hôm nay đến phiên đi tuần, hắn dẫn theo Vũ Lâm quân đang từ chính thất đi ra, thấy tôi dẫn người rầm rộ bước ra từ phủ Triệu lương đệ, hẳn tỏ vẻ như thể rất kinh ngạc nhưng hắn không nói gì, bởi lẽ có giáp trụ trên người, chỉ chắp tay vái lễ: "Mạc tướng tham kiến Thái tử Phi."

"Miễn lễ."

Nhớ lần trước may mà có hắn ra tay cứu giúp, tôi nói đầy cảm kích: "Bùi tướng quân, tối ngày hôm đó đa tạ ngươi!" Nếu không tôi đã bị lũ vô lại kia truy đuổi đến chết rồi, mặc dù cùng lắm thì đánh nhau một trận xong thoát thân, nhưng mà lũ khốn ấy toàn là Vũ Lâm lang của Đông Cung, lỡ đâu đánh xong, bọn chúng mang hận, phát hiện ra tôi là Thái tử phi, như vậy thì không hay ho cho lắm.

Bùi Chiếu vẫn tỉnh bơ: "Thái tử phi nói gì, mạc tướng không hiểu."

Tôi còn chưa kịp nói thêm vài câu với hắn, đã bị Vĩnh Nương kéo đi. Quay về điện, Vĩnh Nương mới giáo huấn: 'Namnữ thụ thụ bất thân, Thái tử phi không nên qua lại với Kim Ngô tướng quân."

Nam nữ thụ thụ bất thân ấy à, nếu mà Vĩnh Nương biết được lúc tôi chuồn ra ngoài, thường xuyên thách rượu nghe hát đánh nhau với đám nam nhân, nhất định sẽ giật mình đến lịm người đi mất.

Đùi tôi ngã sưng một cục to tướng, A Độ giúp tôi bôi thuốc trị thương. Tôi lại muốn bỏ ra ngoài đi chơi, thì sách cũng đã chép xong rồi mà. Thế nhưng dạo này Vĩnh Nương rất sít sao, tôi định đêm khuya tĩnh lặng sẽ lẻn ra. Nhưng khó mà thành được, bởi lẽ tối ngày hôm đó, Lí Thừa Ngân đột nhiên tới.

Xưa nay hắn chưa từng tới chỗ tôi vào buổi tối, thế nên chẳng ai phòng bị gì, Vĩnh nương đã về phòng ngủ, cung nữ trực đêm cũng ăn bơ làm biếng ngủ gà ngủ gật, tôi và a Độ 2 người chơi bài lá, ai thua phải ăn quýt. A Độ liên tục thắng bốn ván, hại tôi phải ăn 4 trái quýt to, bụng dạ cứ cồn cào tức tối, đúng lúc này thì Lí Thừa Ngân đột ngột đến.

Theo cái bộ tôi học vẹt từ hồi đại lễ sắc lập thì trước khi hắn đến – nơi này cần phải chuẩn bị để cung nghênh, y phục sẵn sàng, lò sưởi đặt củi an tức để xông hương thơm, đêm thì sắp sẵn nước trà để sáng hôm sau pha xúc miệng....toàn là có điều lệ có danh mục viết lên rõ ràng cả đấy. Nhưng mà đấy là việc của cung nữ, tôi chỉ cần đôn đốc họ làm cho tốt là được. Vấn đề là Lí Thừa Ngân xưa nay chưa từng qua đêm ở đây, thế nên từ tôi cho đến Vĩnh nương cho đến tất cả mọi người đều dần trở nên lơ là, đám người hầu càng lười nhác, chẳng có ai còn dựa theo khuôn sáo kỹ lưỡng từng li từng tí ấy mà sửa soạn gì cả.

Thế nên đương lúc hắn bước vào, chỉ có tôi và A Độ đang ngồi bên bàn, vui vẻ phấn khởi đánh bài.

Tôi vừa bốc được quân bài ngon, đột nhiên trông thấy Lí Thừa Ngân, còn tưởng mình nhìn lầm cơ đấy, đặt bài xuống rồi mới ngẩng đầu lên nhìn một cái. Ơ, hóa ra đúng là Lí Thừa Ngân thật!

A Độ đứng lên, mỗi lần Lí Thừa Ngân đến không tránh khỏi cãi nhau với tôi, có vài lần chúng tôi còn xém chút thì gây lộn, thế nên hắn vừa bước vào, nàng ấy đã găm sẵn thanh đao bên mình, cảnh giác nhìn chòng chọc vào hắn.

Khuôn mặt Lí Thừa Ngân vẫn cứng nhắc như mọi ngày, ngồi phịch lên giường.

Tôi không biết hắn muốn làm gì, đành ngây thuỗn nhìn hắn.

Cứ như thể hắn đang ấm ức không có chỗ giải tỏa, lạnh nhạt ra lệnh: "Cởi giầy!"

Lúc này, cung nữ cũng tỉnh, thấy Lí Thừa Ngân lại đang ngồi ở đấy, đột nhiên hệt như nhìn thấy ma quỷ, vừa nghe hắn ra lệnh, mới sực tỉnh ngộ, vội vàng tiến lên giúp hắn tháo giầy. Ai dè Lí Thừa Ngân nhấc chân đã đạp cho nàng ta một cái: "Bảo chủ ngươi đến làm!"

Chủ nhân của nàng ta làm gì còn ai khác nữa, ít nhất chủ nàng ta trên danh nghĩa ở điện này, đương nhiên là tôi rồi.

Tôi dìu cung nữ đó đứng dậy, rồi đập bàn: 'Sao điện hạ lại đạp người ta?"

"Ta đạp thì sao! Ta còn muốn đạp nàng nữa cơ đấy!"

A Độ "soạt" một tiếng đã tuốt thanh đao bên mình, tôi lạnh lùng hỏi: "Không phải chàng lại đến để cãi nhau đấy chứ?"

Hắn chợt mỉm cười: "Ta không đến để cãi nhau với nàng, ta đến để ngủ."

Sau đó hắn chỉ vào A Độ: "Ra ngoài!"

Tôi không rõ hắn muốn làm gì, nhưng mà xem ra hắn đến cũng không phải chuyện tốt đẹp gì, lại còn làm ầm ĩ lên như thế, kinh động đến không ít người. Những người đang ngủ cũng choàng tỉnh, bao gồm cả Vĩnh Nương. Vĩnh Nương thấy hẳn đêm hôm khuy khoắt mò đến, không tránh khỏi vừa kinh sợ vừa mừng thầm, kinh sợ vì hắn tỏ bản mặt cáu kỉnh, còn mừng thì có lẽ Vĩnh Nương cảm thấy hắn đến chỗ tôi đã là một việc tốt lành rồi, dẫu cho hắn chuyên đến để gây sự với tôi.

Vĩnh nương vừa vào thì bầu không khí cũng không căng thẳng nữa, bà ấy bố trí người đi sửa soạn trà nước, áo ngủ, nước súc miệng...Tất cả được một phen bận rộn, hỗn loạn phô trương đến mức khủng khiếp. Tôi bị cả đám người vây quanh ba chân bốn cẳng chải đầu một lượt, sau đó đổi áo ngủ, đợi lúc tôi ra ngoài thì Vĩnh Nương cũng đẩy A Độ đi, vốn dĩ A Độ không nỡ rời đi, Vĩnh Nương cúi sát tai nàng ấy không hiểu nói câu gì đó mà A Độ đỏ bừng mặt ngoan ngoãn theo bà ta lui ra ngoài. Nói chung, sau trận nhớn nhác hỗn loạn thì trong điện đột nhiên chỉ còn sót lại có tôi và Lí Thừa Ngân.

Xưa nay, tôi chưa từng mặc áo ngủ mà lại độc chỉ có 1 một mình đứng trước mặt nam nhân nào cả, tôi cảm giác cơn ớn lạnh kì quặc, hơn nữa phen giầy vò ban nãy cũng làm tôi mệt lắm rồi. Tôi ngáp một cái thật dài, lên giường, kéo chăn rồi ngủ luôn.

Còn như Lí Thừa Ngân có ngủ hay không, cái đó đâu phải là chuyện tôi nên bận tâm đâu.

Nhưng mà tôi biết sau đó Lí Thừa Ngân cũng lên giường nằm ngủ, bởi vì chỉ có 1 chiếc chăn, hắn hung hăng đá tôi 1 cái: "Nàng nằm dịch ra một chút đi!"

Tôi đang thiêm thiếp, lại bị hắn đá cho tỉnh cả ngủ.

Lúc tôi sắp ngủ thì tính tình luôn luôn hiền dịu ở mức đặc biệt, thế nên tôi không thèm cãi với hắn, còn nhường một nửa chăn cho hắn. Hắn quấn lấy chăn, xoay lưng lại phía tôi, mau chóng chìm vào giấc ngủ.

Tối hôm đó tôi không tài nào ngủ được, bởi lẽ Lí Thừa Ngân cứ trở mình suốt, mà tôi lại không quen chung chăn với người khác, giữa đêm hắn kéo hết chăn qua, hại tôi lạnh quá rùng mình tỉnh, tôi đành đá hắn 1 cái rồi giật chăn về. Hai người nửa đêm chỉ vì chuyện chiếc chăn mà cãi vã, hắn tức tối nói: "Nếu không phải Sắt Sắt khuyên nhủ ta, thì không bao giờ ta đến đây!"

Sắt Sắt là tên gọi của Triệu lương đệ, lúc hắn nói ra tên nàng ta, ngữ khí lẫn thần sắc luôn hòa nhã vô cùng.

Tôi nhớ lại lúc ban chiều, những chuyện Triệu lương đệ nói, lại còn những lời của Vĩnh Nương từng kể, cuối cùng tôi đã hơi hiểu ra, trong lòng đột nhiên thấy có hơi khó chịu.

Thực ra tôi cũng chả để ý đâu, trước kia lúc hắn không đến, tôi vẫn cảm thấy chẳng có gì phải chật vật cả, thế nhưng tối nay hắn mò tới, trong lòng tôi lại thấy có đôi chút buồn buồn.

Tôi biết phu thê thì ngủ chung, nhưng mà tôi cũng hiểu, xưa nay hắn nào đã từng coi tôi như là thê tử của hắn đâu.

Thê tử của hắn là Triệu lương đệ kia kìa, hôm nay tôi đi thăm Triệu lương đệ, vả lại còn tặng nàng ta chút quà, nàng ta thấy tội nghiệp tôi, thế nên mới khuyên giải hắn qua bên này.

Phụ nữ Tây Lương chúng tôi, xưa nay chưa từng cần người khác phải rủ lòng thương xót.

Tôi bật dậy, nói với hắn: "Điện hạ về đi."

Hắn lạnh nhạt nói: "Nàng yên tâm, trời sáng ta đi ngay."

Hắn xoay lưng lại với tôi rồi ngủ tiếp.

Tôi đành ngồi dậy, choàng thêm áo, ra bàn ngồi.

Trên bàn đặt một chao đèn bằng lụa, chao đèn bao lấy ánh sáng chập chờn của đèn cầy, quầng sáng tròn ấm cúng, dường như muốn tràn ra, trong tim tôi tựa như cũng có thứ sắp trào ra ngoài. Tôi bắt đầu nhớ cha nhớ mẹ, tôi bắt đầu nhớ các ca ca của mình, tôi lại nhớ đến con ngựa nhỏ của tôi, tôi lại bắt đầu nhờ về Tây Lương của mình.

Mỗi lần cô đơn, tôi sẽ lại nhớ Tây Lương, những ngày tháng ở Thượng Kinh cô độc lắm, thế nên tôi chỉ nghĩ về Tây Lương mà thôi.

Chính vào lúc ấy, tôi chợt thấy trên cửa sổ có một bóng hình nhàn nhạt.

Tôi giật thót mình, dang tay đẩy mở cánh cửa.

Cái lạnh lẽo của gió đêm làm tôi đông cứng, bên ngoài không một ai, chỉ có ánh trăng mát lạnh bao phủ khắp nơi.

Tôi dợm đóng cửa sổ lại, đột nhiên thấy cành cây phía xa xa có 1 chiếc bóng trắng, nhìn kỹ mới nhận ra là 1 người mặc áo màu trắng.

Tôi bị dọa cho cứng lưỡi nghẹn họng, phải biết rằng nơi đây là Đông Cung, nơi nơi phòng bị nghiêm ngặt, lẽ nào lại có thích khách xộc vào hay sao?

Mà gã thích khách mặc đồ trắng ấy cũng quá to gan rồi.

Tôi trợn mắt với hắn, hắn thấy tôi, đêm khuya thanh tĩnh đễn nối tiếng gió thổi qua cũng nghe rõ mồn một, ngọn đèn đặt trên bàn gặp gió dập dềnh không yên, mà hắn đứng trên ngọn cây, lẳng lặng quan sát tôi. Gió lùa cành lá nhấp nhô, người hắn nhuốm màu trăng, cũng hơi lay động phập phồng lên xuống, sau lưng hắn là quầng trăng sáng, gió lớn thổi tung cánh tay áo lẫn mái tóc dài, cứ như thể hắn đang cưỡi trên mặt trăng.

Tôi nhận ra hắn rồi, là Cố Kiếm, là cái kẻ kì quái ấy.

Sao hắn lại lọt vào nơi này?

Suýt chút nữa thì tôi cắn phải lưỡi mình. Rồi chỉ một cái chớp mắt của tôi, gã Cố Kiếm đã biến mất hút.

Hay tôi nhìn nhầm, hay chỉ là giấc mơ mà thôi...

Tôi cảm thấy mình mắc bệnh nhớ nhà, làm việc gì cũng lừ đà lừ đừ. Đến ngày hôm sau trời vừa rạng sáng thì Lí Thừa Ngân bỏ đi, hơn nữa cũng không hề quay lại lần nữa. Vĩnh Nương cho đêm hôm ấy chính là một việc hỉ sự, nhắc đến là mặt mày liền rạng rỡ, tôi không nỡ nhẫn tâm kể với bà ấy, thực ra không có chuyện gì xảy ra đâu.

Đừng xem thường tôi tuổi còn nhỏ nhé, lúc tôi và A Độ tản bộ ngoài đường, từng hiếu kỳ đến mấy chỗ ăn chơi xem xét qua rồi, chưa từng ăn thịt lợn thì cũng phải thấy con lợn chạy qua chứ.

Vĩnh Nương cảm kích ý tốt của Triệu lương đệ. Một dạo còn lôi kéo nàng ấy đến chơi bài lá với tôi.

Hôm đó cũng không biết làm sao mà tôi cứ thua liên tùng tục, một ván hòa cũng không gỡ được. Tình trường không được như ý thì cũng thôi đi, thế mà đến bài bạc cũng không thắng nổi ư, Vĩnh Nương còn tưởng rằng tôi hiểu biết đột suất, cố ý nhường Triệu lương đệ, dỗ dành nàng ta vui.

Triệu lương đệ từ đó thường hay đến chỗ tôi đánh bài, nàng ta nói chuyện, thú thực là, làm người ta thích vô cùng, chẳng hạn như nàng ấy khen tôi đi đôi ủng nhỏ của Tây Lương, nàng ấy bảo: "Trung Nguyên chúng ta làm gì có loại thuộc da tinh xảo như thế này đâu."

Tôi mừng lắm liền đáp lời nàng ấy, đợt này nếu mà cha mẹ ta phái người đến, ta sẽ bảo họ mang theo vài đôi giầy đẹp đẹp đến, tặng cho nàng ấy.

Triệu lương đệ vừa đánh bài vừa hỏi tôi: "Thái tử phi lúc nào thì tiến cung đi thăm Tự Nương ạ?"

Tôi thấy khó hiểu, vì sao tôi lại phải vào cung thăm Tự Nương, nàng ta đang yên đang lành ở trong cung, lại có Hoàng hậu cử người đến chăm nom, làm sao tôi còn phải đi thăm nữa? Vả lại Vĩnh Nương đã kể với tôi, Triệu lương đệ từng vì chuyện Tự Nương mà náo loạn một phen ra trò, khóc đến mấy ngày cơ đấy, hại Lí Thừa Ngân phải thề độc, dẫu cho Tự Nương có sinh được con trai, hắn cũng quyết không để ý đến Tự Nương. Tôi cảm giác Triệu lương đệ này ắt hẳn phải ghét Tự Nương lắm, nhưng nàng ta trước mặt tôi giả vờ rộng lượng, còn cố ý đề cập đến

Vĩnh Nương ngồi bên cạnh nói: "Bây giờ Tự Nương đã nhập cung, chưa có tuyên triệu của Hoàng hậu nương nương thì Thái tử phi cũng không tiện đi thăm được ạ."

Triệu lương đệ "ừm" một tiếng rồi như thể chẳng hề để bụng. Hôm đó vận bài bạc của tôi cũng không tệ, thắng được vài đồng lẻ, đợi Triệu lương đệ đi rồi, Vĩnh Nương đã nói với tôi: "Thái tử phi nhất định phải đề phòng, không thể để Triệu lương lấy người ra làm bia đỡ tên."

Có lúc Vĩnh Nương nói tôi chẳng hiểu gì cả, ví dụ như cái câu 'bia đỡ tên' này

Vĩnh Nương nói: "Triệu lương đệ hận Tự Nương như thế, ắt hẳn sẽ tìm đủ mọi cách khiến đứa bé kia không thể sinh ra được. Thị muốn làm gì, Thái tử phi tốt nhất là cứ mặc thị, vui vẻ mà thuận nước giong thuyền, thế nhưng Thái tử phi không thể để mình rơi vào cái bẫy của thị được."

Tôi lại càng khó hiểu hơn, đứa trẻ thậm chí đang ở trong bụng Tự Nương, Triệu lương đệ còn có cách gì để khiến đứa trẻ không thể chào đời. Vĩnh nương nói: "Cách thì nhiều lắm, Thái tử phi là người đứng đắn, không nên tìm hiểu những chuyện này."

Tôi cảm thấy Vĩnh Nương cố tình nói thế, bởi lẽ xưa nay tôi nào có cảm thấy mình đứng đắn, nhưng bà ấy đã nói vậy, thì tôi cũng không nỡ trơ mặt mà truy cứu nữa.

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 11 Mar 2015 02:48 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47724
Thanks: 321
Thanked: 29450 times
Chương 3


Thời tiết chớm lạnh, cuối cùng tôi với A Độ cũng đã tìm được cơ hội lẻn ra ngoài chơi.

Không ngờ ở ngoài đường vẫn là vui nhất, người qua người lại, ngựa xe như nước chảy, náo nhiệt phồn hoa. Chúng tôi lại đến quán trà nghe thuyết thư, cái vị tiên sinh giảng thuyết thư hồi trước không hiểu đi đâu mất rồi, lại đổi sang vị tiên sinh thuyết thư này, cũng chẳng giảng về Tiên Kiếm nữa, mà chuyển sang giảng chuyện tây chinh mười mấy năm trước của triều đình.

“Lần bại trận đấy của Tây Lương, từ đó về sau bị đại của quân thiên triều làm cho khiếp sợ như cỏ rạp dưới gió, phải cúi đầu thần phục. Tuyên hoàng đế nhân hậu, hẹn ước cùng Tây Lương kết mối lương duyên nhiều đời, đồng thời ban hôn công chúa thiên triều là Minh Viễn cho Khả Hãn của Tây Lương. Hai nước hòa thuận đã mười mấy năm nay, chẳng ngờ Khả Hãn già nua của Tây Lương vừa qua đời, tân Khả Hãn lại ngông cuồng tự xưng thành Thiên Khả Hãn, liền tuyên chiến với triều đình ta, khi đại quân của triều đình áp sát biên giới 2 nước, tân Khả Hãn thấy được uy thế của thiên triều, hối hận không kịp, bèn cung kính dâng con gái của mình ra để cầu thân, mới đổi lại được sự khoan dung của thiên triều….”

Hết thảy người ngồi trong quá trà đều ồ cười, A Độ bật dậy đập cái cốc, bình thường nàng ấy luôn can ngăn tôi đánh nhau, lần này lại đến phiên tôi sợ nàng ấy không dằn được mà xuống tay đánh trọng thương người ta, bèn lôi nàng ấy ra khỏi quà trà.

Bên ngoài nắng rạng rỡ, tôi nhớ tới công chúa Minh Viễn, tỷ ấy là một nữ nhân xinh đẹp, trang phục lẫn phấn son tuy không giống nữ tử Tây Lương chỗ chúng tôi, nhưng lúc tỷ ấy bạo bệnh qua đời, cha tôi cũng đau lòng lắm.

Cha tôi đối xử với tỷ ấy rất tốt, cha nói, đối đãi với tỷ ấy tốt, cũng bằng như đối với Trung Nguyên tốt.

Người Tây Lương chúng tôi, cứ ngỡ tưởng mình đối với người khác tốt, thì người ta tự nhiên cũng sẽ đối tốt lại với mình. Nào có giống như người Thượng Kinh, trong lòng lúc nào cũng tính toán lươn lẹo, trước mặt nói 1 kiểu, sau lưng làm một lẻo.

Nếu như là 3 năm trước đây, tôi nhất định sẽ đánh dẹp hết tất thảy bọn người đó ngay giữa quán trà, thế nhưng bây giờ trong lòng đã nguội lạnh lắm rồi.

Tôi và A Độ ngồi nghỉ chân bên cầu, những cánh buồm căng gió lướt trên sông, người chèo đò cầm que sào dài ngoằng ngoẵng, chốc lát đã cắm sâu xuống lòng sông, rồi cứ lùi dần về phía sau. Nhớ hồi mới đến Thượng Kinh, thấy thuyền bè tôi còn ngạc nhiên vô cùng, xe mà cũng đi được trên sông à? Thấy cầu tôi còn sửng sốt hơn, tưởng chừng đó như cầu vồng, là ai đã xếp đá thành cầu vồng thế này? Ở Tây Lương của chúng tôi, mặc dù có sông đấy, nhưng nước sông nông mà trong lắm, như một dải sa màu bạc phủ lên thảo nguyên, nước sông “róc rách” chảy, ngồi trên ngựa là cũng lội được qua, nơi ấy không có thuyền, cũng chẳng có cầu.

Từ lúc đến Thượng Kinh, tôi được chứng kiến biết bao sự vật trước nay chưa từng được thấy, nhưng tôi chẳng vui vẻ chút nào cả.

Đúng lúc tôi đang ngẩn ngơ, đột nhiên có tiếng “ùm” vang lên cách đó không xa, rồi lại tiếng người gào lớn: “Có ai không! Đại ca cháu rơi xuống sông rồi! Có ai đến cứu với!”

Tôi ngước lên nhìn, thấy xa xa có 1 bé gái chừng 7-8 tuổi đang đứng kêu khóc: “Mau cứu ca ca của cháu với! Huynh ấy rớt xuống sông rồi!”

Tôi thấy có một cái đầu nhỏ đang dập dềnh trên mặt nước, lúc chìm lúc nổi, tôi không do dự gì đã nhảy bổ xuống nước, căn bản cũng quên béng mất việc mình không biết bơi. Đến khi túm được cánh tay thằng bé, chính tôi cũng sặc không biết bao nhiêu là nước, trộm nghĩ lần này xong rồi, đã không cứu được người ta, mình lại thành ra chết đuối. Tôi chết đuối rồi thì không sao, nhưng tôi chết rồi thì ai chăm sóc A Độ đây, nàng ấy một thân một mình, chẳng hiểu có biết đường mà tìm về Tây Lương hay không nữa…. Tôi uống liên tục một đống nước, dần dà cả người cứ chìm ngỉm, lúc A Độ vớt tôi từ dưới nước lên, tôi đang mấp mé bờ bất tỉnh nhân sự. A Độ đặt tôi nằm lên một phiến đá lớn bên bờ sông, tôi cứ thể òng ọc khạc ra bao nhiêu là nước, nhớ tới năm đó lần đầu tiên thấy vại thủy tinh trong Đông Cung có nuôi cá vàng, tôi cảm giác hiếm lạ vô cùng, sao nó lại có thể to đến thế nhỉ, cái bụng tròn lẳn đáng yêu đến thế nhỉ, mà lúc nào cũng nhả bong bóng trong hờ hững nữa chứ? Bây giờ thì tôi đã hiểu, hóa ra trong bụng nó toàn là nước cả đấy.

A Độ ướt sạch từ đầu đến chân, nàng ấy khụy gối ngồi cạnh tôi, nước trên y phục vẫn còn nhỏ giọt. Thần sắc lo lắng nhìm chăm chú ở tôi, tôi biết tôi mà không tỉnh lại được thì nha đầu ngốc nghếch ấy thể nào cũng khóc lóc quýnh quáng.

“A Độ…..” tôi trong cơn mê man mà vẫn liên tục ói ra nước, “Đứa trẻ kia đâu….”

A Độ xách đứa nhé vừa mới rơi xuống nước kia lên cho tôi xem, toàn thân nó cũng ướt sũng tí tách nhỏ thành giọt, đôi mắt đen lay láy chỉ lo nhìn tôi.

Tôi mơ màng bò dậy, xung quanh đã có rất nhiều người vây chặt, chắc là thấy ầm ì thì đổ đến. Cả ngày tôi ở ngoài đường tìm vui, chẳng ngờ lần này cũng bị người khác đến ngắm nghía một thôi một hồi. Đúng lúc tôi và A Độ đang vắt nước trên quần áo, có người gào khóc, chân nam đá chân chiêu len vào giữa đám người đang vây tròn: “Con tôi! Con tôi đâu!”

Xem dáng vẻ đoán chừng là 1 đôi phu thê, bọn họ ôm lấy đứa trẻ rơi xuống nước ban nãy rồi bật khóc rất to, con bé mới rồi cũng đứng bên dụi mắt.

Cả nhà sum vầy, tôi cũng mừng, ngày qua ngày lê la ở quá trà nghe thuyết thư giảng anh hùng nghĩa hiệp, chẳng ngờ hôm nay tôi cũng anh hùng được 1 phen. Ai dè còn chưa kịp nghĩ xong, thằng nhóc ban nãy chợt bật khóc: “Cha ơi, là cái người xấu xa này đã đẩy con xuống sông!” Nói rồi nó đã chìa tay ngay lập tức chỉ thẳng vào tôi.

Tôi nghẹn họng nhìn trân trối, không hiểu chuyện gì thế này.

“Con cũng thấy, chính hắn đã đẩy đại ca xuống sông đấy ạ!” đứa con gái giọng còn non nớt, mà tôi nghe bên tai như thể tiếng sấm rền.

“Lòng dạ con người ta bây giờ sao lại độc địa đến thế!”

“Đứa nhỏ này có làm gì hắn đâu cơ chứ?”

“Quà là nhìn không ra, bề ngoài thì nhã nhặn là thế, lại có thể làm ra những chuyện cầm thú như vậy!”

“Cái loại nhã nhặn cặn bã! Cầm thú đội lốt người!”

“Không thể bỏ qua cho kẻ này được!”

“Đúng thế!”

“Không thể tha cho bọn chúng được!”

Người từ bốn bề xộc lên, ba chân bốn cẳng đã xô đẩy chúng tôi. A Độ hiển nhiên cũng không hiểu chuyện gì đang xảy ra, chỉ nhìn tôi. Gân xanh 2 bên huyệt thái dương tôi giật liên hồi, chẳng ngờ làm ơn phải tội, thật khiến con người ta phải phẫn nộ!”

“Đưa đứa nhỏ đến y quán để đại phu xem xem!”

“Cái này phải bồi thường chứ! Vô duyên vô cớ mà đẩy con nhà người ta xuống sông, đền tiền đi!”

Tôi nói: ‘Rõ ràng là bọn ta cứu đứa nhỏ này mà, sao lại có thể lật trắng thay đen, đổ vạ chúng ta đẩy nó được!”

“Không phải ngươi đẩy thì ngươi cứu cái gì?”

Tôi thiếu điều phọt ra cả một miệng máu tươi, cái này….là…kiểu ngụy biện gì thế này?

“Con trai ta bị ngươi làm cho kinh sợ rồi, phải đi mời đại phu!”

“Đúng, trước tiên phải mời đại phu đến xem đã, xem có bị thương không!”

“Đứa trẻ này đang yên lành thế, nào có bị thương đâu? Vả lại rõ ràng là ta vừa cứu nó…”

“Đã xấu xa lại còn cãi bướng! Không đền tiền mời thầy thuốc cũng được, bọn ta lên quan phủ!”

Đám người xung quanh lại hò: “Dẫn chúng lên nha môn đi!”

Thế rồi chỉ nghe thấy tiếng la hét ẫm ĩ: “Lên nha môn!”

Tôi bực lắm, lên nha môn thì lên chứ sao, cây ngay không sợ chết đứng, không làm gì thì sao phải sợ.

Một đám người chúng tôi cứ thế cãi nhau ầm ĩ trên đường vốn dĩ cũng thu hút ánh nhìn của người xung quanh, lại thêm cha mẹ bọn ranh con kia, ôm chúng vừa đi vừa khóc lóc lại vừa gào rú: “Mau đến mà xem này….chẳng còn công lý gì cả….xô con nhà người ta xuống sông rồi lại còn già mồm nói mình cứu chúng. Trẻ con nào có biết nói dối đâu cơ chứ….”

Thế là tôi và A Độ chẳng khác nào chuột tạt qua đường ở ven sông, quầy rau thì ném vỏ rau vào người chúng tôi, kẻ nhàn rỗi qua đường cũng hung hăng khạc ngay 1 bãi nước bọt. May mà A Độ có thân thủ nhanh nhẹn, đống rau thối không cái nào đáp trúng người chúng tôi, nhưng càng như thế, tôi lại càng bực không để đâu hết.

Bước vào đến nha môn Vạn Niên, lửa giận trong tôi mới dịu đi một tẹo, dù sao vẫn có nơi để mà nói rõ lí lẽ. Vả lại đây là lần đầu tiên tôi được đến chỗ này, nhìn có vẻ khá đấy. Kinh triệu doãn quản hạt bên dưới có Tràng An và Vạn Niên, mang ý nghĩa an bình trường tồn muôn đời, Tràng An và Vạn Niên cũng bởi vậy mà được mệnh danh là hai huyện đứng đầu thiên hạ. Lúc thăng đường, khí thế bừng bừng, vốn là nha dịch dài giọng hô to chữ “UY”, sau đó huyện lệnh Vạn Niên mới sải bước xuất hiện, thong thả ung dung ngồi vào chỗ, bắt đầu tra hỏi tên tuổi của nguyên cáo lẫn bị cáo.

Đến tận lúc này đây, tôi mới biết đôi phu thê kia họ Giả, sống ở ven sông, mưu sinh bằng nghề bán cá. Lúc hỏi đến tôi, tôi cũng tự nhiên bịa ra 1 cái tên giả, tự xưng là “Lương Tây”, lúc bình thường lang thang ở bên ngoài, tôi đều dùng cái tên này. Chỉ là huyện lệnh huyện Vạn Niên hỏi tôi hành nghề gì, tôi líu lưỡi không đáp lại được, sư gia ở bên cạnh thấy dáng vẻ tôi, không nhịn được mà nói xen vào: “Vậy chính là lang thang nay đây mai đó đúng không?”

Thì cũng gần như thế, lang thang nay đây mai đó, tôi liền gật đầu.

Huyện lệnh đại nhân nghe đôi phu thê kia nói hươu nói vượn 1 hồi, lại hỏi đến 2 đứa trẻ, 2 đứa trả lời đồng thanh như một, nói là tôi đẩy thằng anh xuống. Huyện lệnh đại nhân không truy cứu bọn nó nữa mà chuyển sang tôi: “Ngươi biết bơi không?”

“Không biết.”

Huyện lệnh Vạn Niên gật gù, phán rằng: “Ngươi vô cứ đẩy người ta xuống sông, suýt nữa gây ra án mạng, còn gì để biện bạch nữa không?”

Tôi tức tối giậm chân: “Rõ ràng thảo dân thấy nó rơi xuống nước mới nhảy xuống cứu cơ mà. Làm sao thảo dân lại đẩy nó xuống được, đẩy nó để làm gì chứ?”

Huyện lệnh lại phán: “Ngươi không biết bơi mà đi cứu nó, nếu như không phải người đẩy thằng bé xuống, hà tất phải liều mình cứu nó?”

Tôi nói: “Cứu người là trên hết, nào có cần nghĩ ngợi gì! Thảo dân thấy thằng bé rơi xuống sông, liền lanh trí nhảy xuống cứu, đâu có bận tâm mình không biết bơi!”

Huyện lệnh nói: “Đủ thấy người đang ăn nói xằng bậy! Con người vốn ích kỷ, ham sống sợ chết, ngươi và đứa trẻ xưa nay không quen biết, lại cũng không biết bơi, thế mà vẫn đi cứu nó, không phải vì chột dạ thì là vì cái gì? Ví như không phải người đẩy, hà cớ gì phải có tật giật mình, đã là có tật giật mình, vậy chuyện ngươi đẩy là không còn nghi ngờ gì nữa!”

Tôi liếc nhìn bốn chữ “gương sáng treo cao” sau lưng lão, gân xanh 2 bên huyệt thái dương lại bắt đầu giật giật. Mỗi một cái giật là lại khiến tôi muốn xắn tay áo lên, lao đến đánh nhau một trận ra trò.

Huyện lệnh Vạn Niên thấy tôi không còn gì để nói, liền ra phán quyết: “Người vô duyên vô cớ đẩy người ta xuống sông, hại con nhà người ta bị kinh hãi không nhỏ, giờ bản quan phạt người đền cho nhà họ Giả 10 xâu tiên để an ủi cả nhà họ.”

Tôi tức đến nỗi bật cười: “Thì ra đại nhân xử án như thế này sao?”

Huyện lệnh Vạn Niên chậm rãi nói: “Ngươi cảm thấy bản quan xử cho người bất công sao?”

“Đương nhiên là bất công rồi! Rõ ràng như ban ngày là thảo dân cứu người, ngài lại chỉ nghe từ một bên, chứ quyết không tin thảo dân.”

“Ngươi mở miệng ra là nói đứa trẻ không phải do ngươi đẩy, ngươi có nhân chứng vật chứng gì không?”

Tôi nhìn sang A Độ, bảo: “Đây là A Độ, cô nương này chứng kiến thảo nhân cứu người, sau đó cũng chính nàng ấy đã vớt thảo dân và đứa trẻ kia lên.”

Huyện lệnh đại nhân ra lệnh: “Vậy gọi kẻ đó tiến lên để ta chất vấn.”

Tôi nén giận, nói: “Cô nương ấy không biết nói chuyện.”

Huyện lệnh huyện Vạn Niên bật cười ha hả: “Thì ra là một kẻ câm!” lão vừa cười tôi đã biết sắp loạn rồi, quả nhiên A Độ “soạt” một tiếng đã tuốt thanh Kim Thác Đao ra, nếu không phải tôi nhanh tay lẹ mắt giữ nàng ấy lại. Không chừng nàng ta đã cắt phăng đôi tai của gã huyện lệnh kia. A Độ đứng ở đó, trợn mắt nhìn gã quan huyện, nha dịch xung quanh lại vùng lên quát tháo: “Trên công đường không được mang theo đao!”

Thân hình A Độ vừa lay động, mà cũng chẳng vùng khỏi tay tôi, chỉ có mũi đao như bông tuyết toán loạn vút theo ánh sáng, rồi lại xoay chuyển trở về trong lòng bàn tay. Nàng ấy ra tay nhanh như chớp, người bình thường còn chưa kịp phản ứng, hộp thăm đỏ trên án của huyện lệnh đại nhân chợt vang lên một tiếng “bang” rồi nứt toác, thăm đỏ trong hộp rơi tá lả xuống đất, mỗi một que thăm đều đã bị chẻ dọc. Cắm trong ống thăm có ít nhất là 10 que thăm, chỉ trong khoảng thời gian chớp nhoáng, toàn bộ đều bị lưỡi đao của A Độ bổ làm đôi, mà mỗi que còn bị chẻ chính giữa, không lệch không nghiêng chút nào. Những người có mặt trên công đường đều giương mắt đờ đẫn, dân chúng đứng ngoài cửa nha môn chứng kiến cảnh tượng náo nhiệt đồng loạt ồ lên: “Xiếc tài quá!”

Sai dịch trong nha môn lại hiểu rằng, nào có phải ‘xiếc hay’, mà là đao pháp. Huyện lệnh Vạn Niên bị dọa đến nỗi mặt vàng khè, vẫn gắng gượng điềm tĩnh: “Người…người đâu! Trên công đường, sao lại có thể giở trò binh khí!”

Ngay lập tức có vài gã nha dịch đánh bạo tiến lên toan đoạt chuôi đao trên tay A Độ, tôi nói ngay: “Các người nếu như ai dám tiến lên, nàng ta mà có muốn cắt tai mấy người, ta cũng không cản nổi đâu.”

Quan huyện quát lớn: “Nơi đây đường đường là nha môn Vạn Niên, các ngươi chẳng lẽ muốn tạo phản ư?”

Tôi nói: ‘Đại nhân à, ngài vu oan cho thảo dân rồi.”

Huyện lệnh nói: “Không muốn tạo phản thì mau giao nộp thanh đao ra…” Lời lão chưa nói dứt, A Độ đã lườm 1 cái, lão lập tức đổi giọng ngay: “Mau thu đao lại!”

A Độ dắt Kim Thác Đao vào thắt lưng, tôi nghĩ hôm nay chúng tôi gây họa lớn rồi, không biết kết cục rồi sẽ thế nào đây.

Huyện lệnh Vạn Niên thấy A Độ đã thu đao lại, dường như cũng an tâm hơn, đưa mắt ra hiệu cho sư gia, vị sư gia liền bước xuống, nhẹ nhàng hỏi tôi: “Thân thủ hai vị anh hùng quả là đột phá, không hiểu là thuộc hạ của vị đại nhân ở phủ nào?”

Tôi nghe chẳng hiểu gì, trợn mắt với hắn: “Nói rõ hơn đi!”

Sư gia nhẫn nại, thấp giọng: “Ý của đại nhân chúng tôi là, hai vị thân thủ vừa nhìn đã biết là phi phàm, không biết hai vị đang phục vụ cho vị đại nhân nào ạ?”

Tôi mừng rơn, té ra lão huyện lệnh này cũng là loại mềm nắn rắn buông, chúng tôi vừa đại náo như thế, lão lại tưởng chúng tôi có chỗ dựa lớn, 8 phần đoán chúng tôi là hiệp khách của phủ quyền quý nào đó rồi. Tôi cân nhắc 1 lúc, nếu mà kêu tên Lí Thừa Ngân ra, e lão huyện thừa này chắc chắn sẽ không tin. Tôi bỗng nảy ra một ý tưởng, có đây rồi!

Tôi khẽ khàng nói với ông ta: “Đại nhân nhà chúng tôi, là Kim ngô tướng quân Bùi Chiếu.”

Sắc mặt sư gia như tỉnh ngộ, thậm chí còn khom lưng, ngầm chắp tay với tôi, khẽ thưa: “Thì ra là thuộc hạ Lâm vũ lang của Bùi đại nhân, chẳng trách phi thường là thế.”

Cái lũ Lâm vũ lang khốn kiếp ấy, tôi mà thèm nhập bọn với chúng à! Nhưng mà những lời này không thể nói ra được, Trung Nguyên có câu rất hay: Người khôn ngoan không chịu thiệt rõ ràng.

Sư gia lui về sau án, thủ thì gì đó bên tai lão huyện thừa nói một chặp.

Sắc mặt Huyện lệnh Vạn Niên thấp thoáng nét khó coi, sau cùng vỗ thước một cái: “Đã là người phụng mệnh hành sự của Kim ngô tướng quân, vậy đi mời Bùi tướng quân đến đây làm chứng xác nhận vậy!”

Cả người tôi nghiêng ngả, chẳng ngờ gã huyện thừa ấy lại xuất chiêu này, trong lòng ngẫm nghĩ hôm nay là ngày Bùi Chiếu phải đi tuần ở Đông Cung, chuyện này đúng là đại náo thật rồi. Nếu như hắn không đến, hoặc sai một kẻ không rõ nguồn gốc đến, tôi thê thảm là cái chắc, lẽ nào phải đánh nhau 1 trận ngay trên công đường ư, rồi sau đó bỏ chạy mất dạng à?

Sau này Bùi Chiếu kể với tôi, tôi mới rõ, gã huyện thừa này mặc dù chỉ là quan thất phẩm, thế nhưng bởi lẽ hoàng thành ngay sát dưới chân thiên tử, đây mới chính là 1 chức vụ vô cùng nan giải, kẻ có thể đảm đương được cái ghế ấy, đều được xem như loại quan lại cáo già bậc nhất. Lão huyện lệnh Vạn niên ấy bị chúng tôi làm loạn 1 hồi, không khép lại được vụ án, nghe nói tôi là người của Bùi Chiếu, liền dứt khoát sai người đi mời Bùi Chiếu đến. Những chuyện bát nháo chốn quan trường này, dù cho Bùi Chiếu có giảng giải cho tôi đến nửa buổi, tôi cũng không tài nào hiểu thấu đáo được.

Vừa khéo hôm nay Bùi Chiếu không phải đi tuần, vừa mời vậy mà đã đến thật.

Hôm nay Bùi Chiếu không vận giáp trụ, chỉ mặc một thân áo bào của võ quan. Xưa nay tôi chưa từng thấy hắn ăn vận như thế, mà xưa nay tôi và hắn cũng chỉ chạm mặt vài lần mà thôi, phần lớn những lúc ấy đều là khi hắn đang tuần trong Đông Cung, chủ yếu là đeo bộ áo giáp nhẹ nhàng. Thế nên lúc hắn bước vào, tôi còn không hề nhận ra. Bởi lẽ hắn khác với thường ngày nhiều quá, cái kiểu nho nhã như thể một thư sinh nhanh nhẹn.

Hắn thấy tôi và A Độ, lại chút cỏn con tỉnh bơ không hề biến sắc. Huyện lệnh Vạn Niên từ sớm đã đứng lên nghênh tiếp, cả mặt giãn ra thành nụ cười: “Kinh động đến tướng quân rồi, âu cũng là vạn bất đắc dĩ.”




“Nghe nói người của ta vô duyên vô cớ xô một đứa trẻ rơi xuống sông, hiển nhiên ta cũng phải đến xem xét.”

“Vâng vâng! Mời Tướng quân ngồi ghế thượng tọa!

“Nơi đây là nha môn huyện Vạn Niên, có lẽ xin đại nhân cứ tiếp tục thẩm tra, bản tướng quân ngồi bên cạnh nghe là được rồi.”

“Vâng vâng!”

Huyện lệnh Vạn Niên truy hỏi nguyên cáo lẫn bị cáo lại từ đầu.

Tôi cảm thấy thật sự thật sự vô vị.

Đặc biệt là nghe lão huyện thừa ấy nói lý: “Con người vốn ích kỷ, ham sống sợ chết, ngươi và đứa trẻ xưa nay không quen biết, lại cũng không biết bơi, thế mà vẫn đi cứu nó, không phải vì chột dạ thì là vì cái gì? Ví như không phải người đẩy, hà cớ gì phải có tật giật mình, đã là có tật giật mình, vậy chuyện ngươi đẩy là không còn nghi ngờ gì nữa!”

Tôi ném cho lão cái nhìn trợn trừng.

Cho đến tận cùng, 2 đứa ranh kia cứ khăng khăng chính tôi đã xô người xuống sông, trong khi tôi vẫn quả quyết phủ nhận.

Lão huyện lệnh đại nhân cố ý hỏi khó Bùi Chiếu: ‘Bùi tướng quân, ngài xem…”

Bùi Chiếu nói: “Ta có thể hỏi 2 đứa trẻ vài lời được không?”

Lão huyện thừa thưa: “Xin mời tướng quân!”

Bủi Chiếu bèn nói: “Vậy xin hãy đưa bé gái này lui ra sau, lấy hoa quả bánh trái cho cô bé ăn, đợi ta hỏi xong anh trai của cô bé, hẵng gọi ra.”

Huyện lệnh đương nhiên đồng ý không ngớt lời, đợi con ranh kia bị dẫn đi rồi, Bùi Chiếu mới hỏi đứa trẻ bị rơi xuống nước: “Ngươi vừa mới nói, ngươi đang nghịch nước ở ven sông, kết quả người này lại đẩy ngươi.”

Thằng bé không hề sợ sệt, chỉ nói: “Đúng ạ.”

“Vậy người này đẩy ngươi từ phía đằng sau à?”

“Đúng ạ”

“Hắn đã đẩy người từ phía đằng sau, sau lưng ngươi lại không hề có mắt, sao biết là hắn đẩy mà không phải là người bên cạnh?”

Thắng nhóc líu lưỡi, mắt đảo một vòng: “Thảo dân nhớ nhầm ạ, hắn đẩy thảo dân từ phía trước, thảo dân ngã ngửa xuống sông ạ.”

“Ồ, thì ra là ngã ngửa xuống sông.” Bùi Chiếu hỏi xong, quay sang nói: “Huyện lệnh đại nhân, xin phép ngày cho người dẫn đứa trẻ này đi thay y phục đi, cả người đều ướt sũng, nếu không thay y phục, chỉ sợ sẽ nhiễm lạnh.”

Huyện lệnh lại sai người dẫn thằng bé đi, Bùi Chiếu đã cho gọi đứa bé gái ban nãy ra trước công đường, chỉ vào tôi hỏi rằng: “Ngươi nhìn xem đây là kẻ đẩy đại ca ngươi xuống sông đúng không?”

“Chính hắn ạ!”

“Vậy đại ca ngươi đang ngồi bên bờ sông, vì sao lại bị người này đẩy?”

“Thì chính hắn đẩy huynh ấy nên huynh ấy mới rơi xuống sông ạ.”

Bùi Chiếu hỏi: “Người ta đẩy vai hay là đẩy lưng đại ca nhà ngươi?”

Con bé nghĩ một hồi, nói chắc nịch rằng: “Hắn đẩy vai đại ca nhà thảo dân ạ”

“Ngươi cứ nhớ cho rõ ràng đã, rốt cuộc là vai hay là lưng?”

Nó do dự một lúc lâu mới bảo: “Cho dù là vai hay lưng thì đại ca nhà thảo dân đang ngồi ở đó, hắn từ đằng sau bước đến đã đẩy huynh ấy một cái rơi xuống sông.”

Bùi Chiếu chắp tay hướng lên trên: “Đại nhân, bổn tướng quân đã hỏi xong, lời khai của hai đứa trẻ này không hề đồng nhất, câu trước không khớp với câu sau, điểm nghi vấn còn rất nhiều, xin đại nhân có phán quyết kỹ càng.”

Sắc mặt lão huyện lệnh từ đầu đã thoắt đỏ thoắt trắng, vội vã thưa: “Tướng quân nói chí phải!” rồi vỗ phách, sai người dẫn thằng bé ra, trách cứ chúng vì sao lại nói dối. Thằng bé thoạt đầu còn chống chế, sau đó huyện lệnh dọa dẫm sẽ đánh đòn nó, nó bật khóc kể bằng hết, vốn cha mẹ nó sống ở ven sông, trường kỳ bày ra thủ đoạn này.

Nó và tiểu muội từ nhỏ đã biết bơi, thường xuyên đóng giả chết đuối để lừa người đến cứu, đợi có người nhảy xuống cứu, liền một mực khẳng định là bị người ta đẩy xuống, đôi phu thê Giả thị kia thừa cơ mà lừa bịp đòi tiền, những người nhảy xuống cứu thường ngậm đắng nuốt cay, tự nhận xui xẻo mà bỏ tiền riêng ra, bởi lẽ phần lớn mọi người đều cảm thấy trẻ con làm sao có thể bịa chuyện được, càng không thể giở loại trò lừa gạt hoang đường này.

Tôi đứng bên, nghe mà cứ chết lặng người, chẳng ngờ trên đời này còn có loại cha mẹ như thế, càng không ngờ trên đời này có loại bịp bợp là thế.

Bùi Chiếu nói: “Bây giờ chân tướng đã rõ, thuộc hạ của ta vì vô tư cứu người mà thành ra kẻ bị hại, quả thực mong đại nhân có phán quyết rõ ràng, bổn tướng quân xin được đưa người về.”

Sắc mặt lão huyện lệnh tỏ vẻ ngượng ngùng: “Xin tùy ý tướng quân.”

Tôi lại nói: “Tiểu dân vẫn có lời muốn thưa.”

Bùi Chiếu liếc nhìn tôi, tôi đã tiến lên trước một bước, nói với gã huyện lệnh: “Ngài vừa mới nói rằng, con người ta vốn ích kỷ, ham sống sợ chết, tiểu dân và đứa trẻ không hề quen biết, lại cũng không biết bơi, nhưng vẫn nhảy xuống cứu đứa bé, không phải là thẹn thì là cái gì? Câu nói này có lẽ không đúng rồi! Tiểu dân liều mình cứu nó, là bởi vì đứa trẻ nhỏ tuổi hơn tiểu dân, tiểu dân tưởng rằng nó sảy chân rơi xuống sông, thế nên mới không kịp nghĩ ngợi gì nhiều. Bảo vệ trẻ nhỏ, cứu người nguy nan, vốn được xem là những đạo lý chính nghĩa. Tiểu dân cũng ham sống, nhưng lại không biết trên đời này lại có kẻ, thấy nguy nan ngay trước mắt còn thờ ơ không ra tay cứu giúp. Thoạt đầu đại nhân hồ đồ phán quyết phạt tiền tiểu dân, há chẳng phải bảo những tấm lòng hảo tâm trong thiên hạ đừng nên lo chuyện bao đồng, sau này liệu còn có ai dám đứng mũi chịu sào, trọng nghĩa cứu người hay không? Tiểu dân không dám nói mình đã làm chuyện kinh thiên động địa ra sao, nhưng dám nói rằng, tiểu dân không hổ thẹn với lòng mình. Nói để ngài rõ, lần này mặc dù gặp phải kẻ bịp bợm, nhưng nếu lần sau lại gặp phải chuyện như thế này, tiểu dân vẫn sẽ ưu tiên cứu người!”

Lúc tôi xoay người bước đi, dân chúng đứng bên ngoài chứng kiến cảnh náo nhiệt lại nổ tiếng vỗ tay, còn có người trầm trồ khen ngợi.

Mặt tôi giãn cười thoải mái, dương dương tự đắc chắp tay cảm tạ với những người vỗ tay tán thưởng.

Bùi Chiếu ngoảnh lại liếc tôi 1 cái, tôi đã le lưỡi rồi vội bước theo sau hắn.

Thì ra hắn cưỡi ngựa đến, tôi thấy ngựa của hắn thần thái cực kì anh tuấn, không cầm được xao động: “Bùi tướng quân, chú ngựa này cho ta mượn cưỡi 1 lúc nhé.”

Ra khỏi công đường rồi nên Bùi Chiếu đối với tôi cũng rất khách sáo, hắn nói: “Bẩm công tử, ngựa này tính tình không được tốt, có lẽ mạc tướng chọn 1 cỗ ngựa khác để người cưỡi….”

Không đợi hắn nói dứt lời, tôi đã tiện chân leo lên yên ngựa, con ngựa vểnh tai khẽ hí, vô cùng dễ bảo. Bùi Chiếu hơi thảng thốt, nói: “Công tử thật bản lĩnh, bản tính con ngựa này khó chiều vô cùng, người bình thường không thể ứng phó được, trừ mạc tướng ra, nó tuyệt đối không để người khác lại gần.”

“Loại ngựa này là do Tây Lương chúng ta cống nạp.” Tôi thoa nhẹ vào gáy ngựa, vỗ về đoạn bờm dài mướt mát của nó bằng lòng yêu thương vô hạn, “Ta ở Tây Lương cũng có một con ngựa nhỏ rất ngoan, bây giờ cũng được tầm 7 tuổi rồi.”

Bùi Chiếu sai người lấy thêm 2 con ngựa nữa, 1 nhường cho A Độ, còn lại hắn tự cưỡi. Tôi thấy động tác hắn phi người lên ngựa, không khỏi thốt ra tiếng tán thưởng. Đàn ông ở Tây Lương chúng tôi rất coi trọng bản lĩnh trên lưng ngựa, Bùi Chiếu vừa bộc lộ, tôi đã biết hắn là một kẻ có năng lực không tồi.

Bởi lẽ trên phố đông đúc, phi ngựa đi không tiện, chỉ có thể nắm dây cương chầm chầm nhích dần lên phía trước. Thượng Kinh phồn hoa náo nhiệt dưới sắc trời thu trong xanh, trên đường người qua người lại, Bùi Chiếu vốn định rong ngựa theo sau tôi và A Độ, nhưng con ngựa của tôi đối với hắn lại thân thiết vô cùng, không nỡ đi nhanh, chẳng mấy mà chúng tôi đã đi ngang hàng. Tôi than vãn: “Hôm nay ta mới được mở rộng tầm mắt, chẳng ngờ trên đời này lại có loại cha mẹ như thế, lại còn có loại bịp bợp kiểu này.”

Bùi Chiếu cười nhạt: “Lòng người nham hiểm đáng sợ, sau này công tử phải đề cao cảnh giác.”

“Nhưng ta chẳng biết đề phòng thế nào.” Tôi nói: “Trong lòng người Thượng Kinh có quá nhiều thứ phức tạp, mà nữ nhi Tây Lương chúng ta tính cách tất thảy đều giống nhau, vui vẻ hay không đều biểu lộ cả trên mặt, bảo ta phải bắt chước người Thượng Kinh, thà giết ta đi còn hơn.”

Bùi Chiếu vẫn cười nhạt nhẽo.

Tôi cảm giác mình dường như đã nói hơi quá lời, liền vồn vã bổ sung thêm 1 câu: “Bùi tướng quân này, ngươi và bọn họ không giống nhau đâu, ngươi là người tốt, ta nhận ra mà.”

“Công tử quá khen rồi.”

Lúc ấy có đợt gió lùa, y phục trên người tôi vốn dĩ đã ướt nhẹp, vừa mới ở nha môn giằng co một hồi, cũng ráo khô được một nửa, nhưng quần áo bên trong vẫn còn ẩm lắm, bị gió thổi qua, rõ là lạnh thấu tim luôn, không kiềm được cái hắt xì.

Bùi Chiếu nói: “Trước mặt có quán trọ, nếu như công tử không chê, mạc tướng xin giúp công tử đi mua vài bộ y phục, đổi sang mặc đồ khô ráo rồi đi tiếp có được không ạ? Thời tiết bây giờ, mặc đồ ẩm chỉ e sẽ ngã bệnh.”

Tôi nhớ ra A Độ cũng đang mặc bộ đồ ướt sũng, liền đồng ý ngay lập tức.

Bùi Chiếu đưa chúng tôi đến quán trọ, đặt một gian chính giữa, qua một lúc, đích thân hắn mang 2 bọc quần áo bước vào, nói: “Mạc tướng đã di tản hết người xung quanh đi rồi, tránh bọn họ dựa vào sơ hở của chúng ta mà nhận ra hành tích. Xin hai vị cứ tự nhiên, mạc tướng ở ngay bên ngoài, có gì xin cứ truyền gọi.”

Lúc hắn ra khỏi ngưỡng cửa, A Độ liền cài then cẩn thận, chúng tôi mở bọc quần áo ra xem, từ áo trong đến áo ngoài thậm chí giầy tất, đều mới cáu, được gấp cẩn thận ngay ngắn. Chúng tôi thay bộ khô ráo xong, A Độ giúp tôi chảy lại tóc. Giờ thì thoải mái rồi.

Tôi mở cửa, gọi một tiếng: ‘Bùi tướng quân.”

Bên ngoài là một dãy hiên, Bùi Chiếu đứng ở tận đầu hành lang. Một lúc không gặp, hắn đã thay bộ thường phục khác, tóc vấn gọn, càng có nét thư sinh. Hắn quay mặt ra ngoài cửa sổ, đoán chừng đang xem xét cảnh vật trên phố. Nghe tiếng tôi gọi, liền ngoái lại, dường như có chút ngơ ngác nhìn tôi và A Độ.

Tôi nghĩ chắc hắn đang suy xét gì đó, bởi lẽ ánh mắt ấy có phần kì lạ. Nhưng mà rất chóng vánh hắn đã chuyển ánh nhìn, hơi cúi mặt, “Mạc tướng hộ tống công tử trở về.”

“Ta vất vả lắm mới chuồn ra được, bây giờ chưa muốn về vội!” Tôi nhoài mình trước cửa sổ, ngắm con phố trải dài tăm tắp mà đầy huyên náo, “Chúng ta đi uống rượu đi, ta biết có 1 chỗ có rượu ngon, uống vào càng sảng khoái.”

“Tại hạ còn có nhiệm vụ khác, mong công tử lượng thứ, mời công tử hãy quay trở về.”

“Hôm nay có phải ngày ngươi đi tuần đâu. Thế nên hôm nay ngươi không phải là Kim ngô tướng quân, ta cũng không phải là Phi cái gì gì đó. Huống hồ ta hôm nay cũng đen đủi lắm rồi, suýt nữa thì bị chết đuối, thêm cái lão quan huyện hồ đồ vu oan giá họa suýt hại chết ta kia. Nếu không đi uống vài chén an ủi thì uất ức lắm.”

Bùi Chiếu thưa: “Để đảm bảo an toàn, xin công tử hãy để mạc tướng được hộ tống người về.”

Tôi nổi giận đùng đùng, nhoài trên cửa sổ, không thèm để ý đến hắn. Ngay lúc đó bụng réo tiếng ùng ục, tôi sực nhớ ra mình nào đã ăn gì từ sáng đến giờ, bụng và lưng dán cả vào nhau rồi. Bởi vì mặt Bùi Chiếu đỏ lựng, nên đoán chừng chắc cũng nghe thấy bụng tôi sôi ọc ọc,. Vốn dĩ hắn đứng cách tôi phải đến một khoảng rộng là vài bước, nhưng nhờ ánh sáng xuyên qua cửa sổ vừa vặn rọi trên khuôn mặt hắn, khiến tôi có thể nhìn thấy rõ mồn một.

Xưa tay tôi chưa từng thấy một nam tử đại trượng phu lại đi đỏ mặt, không tránh khỏi nảy sinh cảm giác hứng thú. Cười bảo: “Này Bùi tướng quân, bây giờ thì ngươi tình nguyện đưa ta đi ăn chứ?”

Hắn hơi do dự, rồi mới thưa: “Xin vâng.”

Tôi rất không ưa cái giọng điệu đấy của hắn, vừa hờ hững mà lại khách sáo. Có lẽ hắn từng 2 lần cứu tôi thế nên trên thực tế tôi mới vô cùng cảm kích hắn.

Tôi và A Độ đưa hắn đi xuyên qua một ngõ nhỏ chật hẹp, quẹo này ngoặt nọ cuối cùng mới đến được quán rượu củaMễ La.

Mễ La vừa gặp tôi, đã nồng nhiệt xông đến, đống trang sức trên đầu tỷ ấy leng keng lách cách một hồi, chuông vàng trên cổ chân cũng xào xạc vang lên. Mễ La ôm tôi, ngọng ngịu cười nói: “Ta để phần cho muội 2 hũ rượu ngon đấy.”

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 11 Mar 2015 02:50 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47724
Thanks: 321
Thanked: 29450 times
Chương 4


Tỷ ấy thấy sau lưng A Độ là Bùi Chiếu, không kìm được liếc hắn 1 cái, Mễ La có đôi mắt xanh biếc, người ngoài lần đầu thấy tỷ ấy luôn tỏ vẻ kinh sợ. Nhưng hình như Bùi Chiếu lại chẳng hề xê dịch gì, sau này tôi nghĩ, Bùi gia được xem là thế gia vọng tộc ở Thượng Kinh, quen gặp những chuyện lớn rồi. Thượng Kinh phồn hoa, trên phố cũng có con gái người Hồ bán rượu, Bùi Chiếu ắt hẳn có thấy cũng không lấy làm lạ.

Quán rượu này ngoại trừ rượu ngon ra, món thịt bò cũng rất đậm đà. Mễ La sai người thái 1 cân thịt bò cho chúng tôi nhắm rượu, vừa mới ổn định chỗ ngồi, bất chợt trời đổ cơn mưa.

Mưa thu không to nhưng dai dẳng, giọt mưa gõ vào ngói trúc trên mái nhà vọng tiếng boong boong. Bàn kế bên có vài người khách là thương nhân Ba Tư, lúc ấy móc ra 1 ống sáo bằng sắt, nức nở thổi, giai điệu thì kiểu cổ quái đáng yêu vô cùng. Hòa cùng tiếng mưa leng keng trên rìa mái hiên, hóa ra lại có nhịp thướt tha khó nói thành lời

Mễ La nghe tiếng sáo, đặt phịch hũ rượu xuống, vọt lên bàn, nhón chân trần nhảy múa. Dáng dấp tỷ ấy mềm mại khêu gợi, buông mình trong khúc nhạc như thể toàn thân không xương, lại vô cùng yêu kiều. Tiếng chuông vàng trên cổ tay cổ chân sàn sạt như cơn mưa rào, đắm chìm trong âm điệu của sáo, lại như con rắn vàng mặc sức nhảy múa. Đám thương nhân Ba Tư ấy đều vỗ tay tán thưởng, Mễ La nhẹ nhàng chườn xuống bên bàn, bắt đầu những điệu múa quay mòng mọng, vây lấy 3 người chúng tôi,.

Từ lúc rời Tây Lương, tôi chưa từng được tùy ý buông tiếng cười sảng khoái như thế. Động tác của Mễ La thanh tao linh động lại mềm dẻo, tựa một dải lụa tơ tằm, xoắn chặt lấy toàn thân tôi, rồi lại tung tăng dập dờn như cánh bướm. Tôi học theo dáng dấp của tỷ ấy, dùng tay phối hợp với nhạc đệm múa máy kiểu này kiểu nọ, chỉ có thân người là không được nửa phần nhẹ nhàng khéo léo như thế. Mễ La xoay vài vòng, A Độ rút từ trong áo ra một cây khèn tất lật đưa tôi, lúc ấy tôi đột nhiên mừng rỡ, cũng thổi vài điệu hùa theo.

Thương nhân người Hồ nọ thấy tôi thổi khèn tất lật, liền ra sức vỗ tay bắt nhịp. Tôi thổi một bài, ngửi mùi thịt bò trên đĩa thơm phưng phức cuộn dậy, liền nhét cây khèn vào tay Bùi Chiếu: “Ngươi thổi đi! Thổi đi!” Thế rồi nhấc đũa, mau chóng ngốn đồ ăn.

Chẳng ngờ Bùi Chiếu biết thổi khèn tất lật thật, mà còn thổi rất hay. Âm thanh của khèn vốn dĩ dịu dàng mà có nét đau thương, tiếc sáo kia lại lanh lảnh mãnh liệt, 2 loại nhạc khí phối với nhau hóa ra vô cùng ăn khớp. Thoạt đầu là tiếng khèn buồn man mác lại uyển chuyển của Bùi Chiếu đệm với tiếng sáo, sau tiếng sáo của thương nhân người Hồ mới dần dần hòa vào tiếng khèn. Giai điệu từ man mác đã chuyển sang sục sôi hùng dũng, như thể ngoài Ngọc Môn Quan, chỉ thấy khói sương mù mịt trên sa mạc rộng lớn, xa xăm thấp thoáng có tiếng lục lạc vọng lại, một đoàn lạc đà xuất hiện trên cồn cát. Tiếng lục lạc đong đưa càng lúc càng gần kề, gần kề đến mãnh liệt, thế rồi cửa ải hiểm yếu đột nhiên rộng mở, thiên binh vạn mã phất cờ dàn trận, tiếng gào thét, tiếng vó ngựa, khiên giáp va chạm bật thành tiếng, tiếng gió, tiếng thở ra hít vào…vô số âm thành hòa thành chương nhạc ngùn ngụt khắp trời mà cuồn cuộn kéo đến, cùng với nhịp điệu mỗi lúc một tăng, Mễ La cũng múa mỗi lúc một nhanh, lượn vòng tựa cánh thiêu thân, lách qua khiến tôi choáng váng mặt mũi.

Những âm điệu ấy càng thê lương, lại càng giống như cánh diều hâu chao lượn đã 9 ngày 9 đêm, nhìn xuống thiên binh vạn mã trên sa mạc, càng bay càng cao, bay mãi cao mãi, gió lớn xoay vần cát bụi áo ào kéo đến……Cho đến khi tôi ăn no căng cả bụng, đoán chừng con diều hâu ấy cũng đã bay tít đến tận đỉnh núi tuyết rồi, tuyết liên trên đỉnh núi bung nở, diều hâu sải rộng đôi cánh vút qua, có chiếc lông vũ bứt khỏi thân chim, phiêu bồng, tung bay theo chiều gió, một chiếc đáp hạ bên bông tuyết liên. Nhánh lông vũ ấy lạc xuống tuyết, bụi tuyết vần vũ đốm lông ấy trong gió vùi, cánh hoa tuyết liên mơn mởn khẽ rung rinh, gió bụi vạn dặm, cuối cùng tĩnh tại ngay trên chóp núi ấy…..tiếng sáo tiếng khèn bỗng dưng im bặt, trong quán trầm lắng đến nỗi tiếng giọt ranh ngoài hiên vọng vào nghe rõ mồn một. Mễ La nằm mọp trên bàn thở dốc, đôi mắt xanh biêng biếc tụ tích nước dường như sắp chực trào, bảo: “Không thể cố được nữa rồi.” Những thương nhân Ba Tư kia ồ cười, có người rót 1 chén rượu đưa cho Mễ La, lồng ngực Mễ La vẫn phập phồng lên xuống, một hơi uống cạn chén rượu, lại quay ra, nở nụ cười xinh tươi với Bùi Chiếu: “Huynh thổi rất hay!”

Bùi Chiếu không đáp lời, chỉ chậm rãi dùng rượu lau sạch cây khèn, sau đó giao lại cho tôi.

Tôi nói: “Quả là khó tin, hóa ra người cũng biết thổi khèn, những người Thượng Kinh biết thổi khèn cũng không nhiều lắm.”

Bùi Chiếu đáp: “Phụ thân thần từng đi sứ đến Tây Vực, trong số nhạc khí đem về có khèn tất lật, thời gian rảnh rỗi lúc còn nhỏ, thần từng tự mình học thổi kèn sáo.”

Tôi vỗ tay cười nói: “Ta biết rồi, cha người là tướng quân Bùi Huống dũng mãnh. Cha ta và ông ấy từng có lần giao đấu với nhau, cha ta khen ông ấy là người rất có tài dụng binh.”

Bùi Chiếu nói: “Là do Khả Hãn quá khen rồi.”

Tôi bảo: ‘Cha ta không tùy tiện khen người khác đâu, cha ta khen phụ thân ngươi, cũng bởi ông ấy là người có tài thật sự.”

Bùi Chiếu nói: “Vâng.”

Hắn vừa nói “vâng”, tôi đã cảm nhận thấy cơn nhàm chán. Được cái nhóm người Ba Tư lại bắt đầu ca hát, giai điệu du dương mang nỗi buồn thăm thẳm rung động lòng người. Mễ La uống thêm một chén rượu, biết chúng tôi nghe không hiểu ca từ, tỷ ấy dùng chất giọng phổ thông ngọng ngịu, khẽ hát cho chúng tôi nghe. Thì ra, những người thương nhân ấy đang hát rằng:

“Quê tôi có con trăng sángtrăng tròn rồi khuyết, sao cố hương vẫn khuất bóng.Đất mẹ tôi có dòng sông saosông sao xán lạn, sao đất mẹ khó về.Gió kia cũng ôn hòa, gió thổi trên đất quê tôi.Ngày kia vẫn đẹp tươi, ngày chiếu rọi quê nhà tôi.Rồi đây biết non sông nào chôn cất tôi.Rồi đây biết phương trời nào gửi tôi về….”

Tôi cất lời hát vài câu theo Mễ La, không nhịn được ủ ê, nghe những người Hồ ấy hát đến âu sầu, bất giác lại uống cạn một chén rượu. Bùi Chiếu khẽ gật đầu, nói rằng: “Nỗi niềm nhớ quê hương ai mà chẳng có. Những thương nhân người Hồ này nhớ cố hương đến thế, vì sao không quay trở về đi?”

Tôi thờ dài: “Trên đời này không phải ai ai cũng giống như ngươi, từ lúc sinh ra đến giờ chưa từng phải rời xa đất nước mình, bọn họ xa xứ, âu cũng là bất đắc dĩ thôi.”

Bùi Chiếu trầm ngâm một lúc lâu, thấy tôi lại đổ đầy chén rượu, không kìm được nói: “Công tử uống nhiều rồi.”

Tôi hùng hồn nói: “Lấy gì giải sầu? Chỉ có rượu thôi!”

Thấy Bùi Chiếu nhìn tôi dường như rất đỗi kinh ngạc, tôi chìa 3 ngón tay ra, nói: “Đừng cho rằng ta tài giỏi gì, thực ra ta thuộc tổng cộng có 3 câu thơ, câu vừa nãy là 1 trong 3 đấy.”

Cuối cùng hắn bật cười.

Rượu Mễ La bán quả nhiên lợi hại, tôi uống có phần quá đà, lúc ra khỏi quán, mặt đất dưới chân nhũn mềm, như thể đang giẫm lên đụn tuyết trên sa mạc. Mưa vẫn đang rơi, sắc trời đổ xuống chạng vạng, nơi mông lung xa xăm có làn mưa đang xoay vần trắng xóa, đem tất thảy thành quách chứa dầy đặc gần 10 vạn hộ dân, đem cả phồn hoa mỹ lệ 2 bên bờ kênh đào, tất thảy đều ấp ủ trong chiếc lồng của ngày mưa. Gió rắc hạt mưa bụi lất phất lên gò má nóng hầm hập, chợt gặp được cơn mát lạnh thân thương, tôi chìa tay đón những bụi nước lấm tấm dường như là bụi lưu ly, có giọt mưa đọng lại trong lòng bàn tay, mưa khẽ khàng va vào da thịt dậy lên cơn ngứa ngáy. Nơi xa xăm thấp thoáng có đốm lửa từ nhà dân, dập dờn đan xen mà lóe sáng, tửu lầu quán trà nơi lề đường phố thị đã sớm chong đèn sáng trưng. Mà thân đò trên con kênh kia cũng khoác lên mình một chuỗi những đèn lồng đỏ, sợi khói vấn vương toát ra từ bếp nhà nào, quẩn quanh trên mui đò trong làn mưa rả rích.

Thượng Kinh đẹp nhất trong cơn mưa phùn, nét đẹp tựa tranh vẽ ấy dù cho họa sư ở Tây Lương chúng tôi có tài năng đến mấy, cũng không thể mường tượng ra được cảnh sắc này, phồn hoa này, ấm nhuần này, nơi đây tựa như thành đô của thiên hạ, tựa như cảnh tiên nơi mà các vị thần trên trời đã đặc cách chiếu cố tạo nên. Thiên triều của Thượng Kinh chính là đây, đô thị náo nhiệt nhất hưng thịnh nhất thiên hạ cũng chính là đây, vạn nước bái kiến, vạn dân cảm mến, nhưng mà tôi biết, tôi không quên được Tây Lương, dẫu cho Thượng Kinh có đẹp đẽ dường nào, nó đâu có phải là Tây Lương của tôi.

Bùi Chiếu tiễn tôi về đến tận cửa bên hông của Đông Cung, thấy chúng tôi lẩn vào xong xuôi, hắn mới quay gót bước đi. Tôi cảm giác mình đã chếnh choáng say, lúc ấy men rượu đã dâng đầy, nhịn không nổi lờm lợm buồn nôn. A Độ vỗ nhẹ lưng tôi, chúng tôi ngồi chồm hỗm trong hoa viên được một lúc lâu, gió thổi cho tỉnh táo hắn rồi mới rón rén mò về trong cung.

Vừa bước qua cửa điện, tôi đã choáng váng cả người, bởi lẽ Vĩnh Nương đang đợi tôi ở trong phòng. Bà ấy vừa nhìn thấy tôi, chẳng chỉ trích chuyện tôi lại lẻn ra ngoài đi chơi, mà cũng không trách móc chuyện cả người tôi xộc mùi rượu, càng không phê bình tôi vận đồ nam, chỉ sa sầm nét mặt, hỏi: “Thái tử phi có biết trong cung xảy ra chuyện rồi không?”

Tôi không thể không hỏi: “Xảy ra chuyện gì thế?”

“Đứa con của Tự Nương…không còn nữa rồi.”

Tôi giật mình, khuôn mặt của Vĩnh Nương vẫn hoàn toàn vô cảm, chỉ bảo: “Nô tì tự mình làm chủ, đã sai người tiến cung thăm hỏi Tự Nương rồi. Nhưng chỉ sợ Hoàng hậu sắp tới sẽ truyền Thái tử phi vào cung hỏi chuyện.”

Tôi hỏi khó hiểu: “Hoàng hậu muốn hỏi gì ở ta chứ?”

“Hoàng hậu là chủ hậu cung, phàm là khi hậu cung có chuyện, đương nhiên sẽ do Hoàng hậu phân xử. Nội điện bên Đông Cung là do Thái tử phi làm chủ, bây giờ nội điện Đông Cung xảy ra chuyện, hiển nhiên Hoàng hậu sẽ phải hỏi tới Thái tử phi.”

Tôi xưa nay đã gặp cái nàng Tự Nương đó đâu, muốn truy hỏi tôi cái gì cơ chứ?

Thế nhưng Vĩnh Nương trước giờ nói năng đều có căn cứ cả, bà ấy bảo Hoàng hậu sắp triệu tôi, vậy thì khẳng định là Hoàng hậu sẽ sai người đến tuyên triệu tôi. Bây giờ cả người tôi như thế này, sao dám đi gặp Hoàng hậu được đây? Tôi vội vã nhảy chồm lên: “Mau! Mau lên! Ta phải tắm rửa! Mau đi sắc cho ta một bát canh giải rượu thật đậm đặc vào!”

Cung nữ vội vàng giúp tôi chuẩn bị, trước nay tôi nào đã từng hớt hải lao vào buồng tắm như thế đâu, thấy nước nóng chỉnh tề rồi, liền lập tức nhảy bổ vào thùng, tự trầm mình trong làn nước. Vĩnh nương thấy tôi cuống cuồng, nhịn không được bảo: “Nếu mà hàng ngày Thái tử phỉ tuân thủ nội quy trong cung, thì bây giờ đâu đến nỗi ‘gặp nạn mới ôm chân Phật’?”

“Gặp nạn mới ôm chân Phật” câu nói này quả thực thần kì, trước kia tôi chưa từng cảm thấy hứng thú với những gì Vĩnh Nương nói. Tôi bảo: “Mấy cái nội quy vứt đi ấy, ngày nào cũng phải tuân theo, khéo làm con người ta ngột ngạt chết mất, ‘gặp nạn mới ôm chân Phật’ thì có gặp nạn mới phải ôm chân Phật chứ, Phật tổ ơi, xin ngài hãy phù hộ độ trì cho con.”

Cả khuôn mặt Vĩnh Nương cứng đờ, nhưng mà tôi biết bà ấy đang cố nhịn cười, tôi liền thò cánh tay ướt nhẹp từ thùng tắm ra, kéo gấu áo bà ấy: “Vĩnh Nương à, ta biết bà là người tốt, hàng ngày bà giúp ta khấn thêm mấy lời với Phật tổ nhé, ta nhất định sẽ biết ơn bà đầu tiên.”

“A di đà phật! Sao có thể lấy Phật tổ ra nói đùa được! Vĩnh Nương chắp tay trước ngực, “Thật tội lỗi tội lỗi!” Mặc dù bà ấy ngoài miệng thì nói thế, nhưng từ lâu đã gồng mình kìm chế không được bật cười, cung nữ thân cận mang lên bát canh giải rượu, “Mau uống nào, nguội rồi sẽ càng chua.”

Canh giải rượu thực sự rất chua, tôi bịt mũi tu một hơi hết sạch.


Vĩnh Nương sai người đi xông hương y phục, đợi tôi tắm sạch sẽ xong sẽ đổi áo mới, vừa búi lại tóc, còn chưa đổi xong thoa cài đầu, cung nữ do Hoàng hậu phái đến đã đứng trước cổng Đông Cung.

Tôi bảo Vĩnh Nương ngửi thử xem trên người tôi còn có mùi rượu không, Vĩnh Nương hít hà cẩn thận một hồi, sau giúp tôi xịt thêm bao nhiêu là dầu thơm, lại cho tôi ngậm một viên Hương Hoàn trong veo như tuyết. Viên thuốc ấy đắng lắm, nhưng nhai xong quả nhiên hơi thở có mùi như hoa lan, tương đối hiệu nghiệm.

Lần ấy Hoàng hậu tuyên thiệu cả tôi và Lí Thừa Ngân.

Nhiều ngày rồi tôi chưa gặp Lí Thừa Ngân, thấy hắn dường như lại cao thêm một chút xíu, bời lẽ sắp nhập cung, thế nên hắn đội mũ miện, mặc bộ lễ phục, mang cửu ngọc, thêm trang sức bằng vàng. Nhưng mà hắn cũng chẳng thèm liếc tôi đến 1 cái, đã bước thẳng lên xe.

Lúc triệu kiến Hoàng hậu tôi mới biết chuyện gì đã xảy ra, vốn dĩ Tự Nương bất thình lình chuyển dạ, ngự y chuẩn đoán nguyên do là uống nhầm thuốc trợ sản. Vì thế mà Hoàng hậu tống giam tất cả những cung nữ hầu hạ Tự Nương. Sau đó niêm phong toàn bộ thực phẩm nước uống để bên Dịch đình lệnh – kiểm tra nghiêm ngặt. Sau cùng đã tìm ra cơm kê bị hạ độc, chính là nguyên nhân khiến Tự Nương sảy thai. Hiển nhiên Hoàng hậu nổi giận lôi định, hạ lệnh điều tra vụ này cho ra lẽ, cuối cùng có cung nhân không chịu được hình phạt của tổ Dịch đình, đã thú nhận rằng có người giật dây ả hành động.

Lời Hoàng Hậu vẫn nhã nhặn mà đều đều như một: “Ta đưa Tự Nương vào cung, chỉ lo mẹ con nàng ấy xảy ra sơ sót gì, chung quy tất cả là vì cốt nhục đầu tiên của Đông Cung. Chẳng ngờ mẹ con nàng ấy vẫn bị ám hại, mà lại ở ngay trong cung, ở ngay trước mắt ta. Thiên triều ta mấy trăm năm nay, quả thật nào đã xảy ra sự tình thế này!”

Mặc dù ngữ khí người ôn hòa, nhưng ngôn từ thì nghiêm khắc, trước nay tôi chưa từng được nghe người nói chuyện như thế, không tránh khỏi đến cả thở mạnh cũng không dám, tất cả những ai có mặt trong điện đều mang tâm trạng nín thở lắng nghe giống tôi. Hoàng hậu nói: “Các ngươi có biết, cung nhân kia đã khai kẻ nào đã sai khiến ả không?”

Tôi đánh mắt liếc Lí Thừa Ngân, Lí Thừa Ngân lại không hề nhìn tôi, chỉ lãnh đạm trả lời: “Nhi thần không rõ.”

Hoàng hậu lệnh cho cung nữ: “Đọc khẩu cung cho Thái tử cùng Thái tử phi nghe.”

Cung nữ đọc to khẩu cung của ả cung nhân kia, tôi nghe mập mờ, lại nghe thêm vài câu nữa, càng không kìm chế được mà ngắt lời: “Bẩm Hoàng hậu, việc này không phải do con làm! Con không hề sai người mua chuộc ả hạ độc Tự Nương.”

Hoàng hậu lạnh nhạt phán: “Hiện tại nhân chứng vật chứng đều đủ, ngươi nói không phải ngươi làm, vậy có chứng cớ gì không.”

Rõ ràng tôi bị người ta vu oan, tôi nói: “Vậy tại sao con phải hại nàng ta chứ? Con không quen biết nàng ta, thậm chí xưa nay chưa từng gặp gỡ, vả lại từ lúc nàng ta nhập cung, con còn không hề hay biết nàng ta ở đâu….”

Thật sự oan ức cho tôi quá! Chẳng hiểu ở đâu ra lại bị người ta vu cáo hãm hại như thế này.

Hoàng hậu hỏi đến Lí Thừa Ngân: “Ngân Nhi, con thấy thế nào?”

Lí Thừa Ngân cuối cùng liếc tôi 1 cái, rồi quỳ xuống: “Xin tùy mẫu hậu định đoạt.”

Hoàng hậu nói: “Thái tử phi tuy có thân phận đặc biệt, lại là công chúa của Tây Lương, chỉ vì 1 lúc hồ đồ mà gây ra họa lớn, dường như không thích hợp để làm chủ Đông Cung nữa.”

Lí Thừa Ngân không lên tiếng.

Tôi tức đến toàn thân phát run: “Chuyện này không phải con làm, hôm nay các người có giết con, con thà chết chứ không thừa nhận! Còn như Đông Cung với chẳng không Đông Cung, nói thực con cũng chẳng để bụng, nhưng con tuyệt đối không thể để mặc người ta vu oan cho con như thế này được!”

Hoàng hậu nói: “Khẩu cung ở ngay đây. Ngân Nhi, con nói xem?”

Lí Thừa Ngân thưa: “Xin tùy mẫu hậu định đoạt.”

Hoàng hậu khẽ mĩm cười, bảo: “Một ngày phu thê trăm năm ân nghĩa, con không 1 mảy may nghĩ cho ân nghĩa phu thê giữa các con sao?”

Lí Thừa Ngân thấp giọng nói: “Nhi thần không đành, nhưng quốc có quốc pháp, gia có gia quy, nhi thần không dám vì tình riêng mà bất chấp.”

Hoàng hậu gật đầu, nói: “Được, được lắm. Quốc có quốc pháp, gia có gia quy. Nói hay lắm.” Nụ cười trên mặt người vụt tắt, phân phó cung nữ: “Phế Triệu lương đệ xuống làm thường dân, lập tức trục xuất khỏi Đông Cung!”

Tôi giật mình sửng sốt, thần sắc Lí Thừa Ngân càng như thể bị sét giáng trúng đầu: “Mẫu hậu!”

“Khẩu cung vừa rồi, thực sự không sai, nhưng sau khi khai xong, cung nhân kia đã cắn lưỡi tự vẫn. Đừng tưởng rằng người chết rồi thì không có ai đối chứng, Dịch đình lệnh hành sự quả thực rất đáng khen. Vụ án vẫn được đào sâu điều tra, hóa ra cung nhân này trước kia từng chịu ơn Triệu lương đệ, tội ả đáng phải tru di cửu tộc, nhưng sau khi truy hỏi, ả không hề có thân thích gì, chỉ có 1 nghĩa mẫu. Hiện trong hầm đất nhà ả, lại tìm được 1 trăm đĩnh quan ngân, một trăm đĩnh bạc này đều là quan ngân, có thể sổ sách tra cứu….Sau khi bắt giam và dùng hình đối với ả nghĩa mẫu kia, ả đã khai thì ra Triệu lương đệ từng sai người đến nhà ả. Triệu lương đệ dùng chiêu này một mũi tên trúng hai đích, lại gắp lửa bỏ tay người. Lòng dạ thâm hiểm như thế, quả thật đáng hận. Cứ tiếp tục dung túng thị, chẳng phải sẽ đẩy Hoàng tộc chúng ta vào bờ tuyệt tự hay sao!”

Tôi còn chưa kịp hiểu lời Hoàng hậu nói rốt cuộc có ý gì, Lí Thừa Ngân đã cướp lời: “Xin mẫu hậu nguôi giận, nhi thần nghĩ, chuyện này ắt hẳn có kẻ gài bẫy hãm hại Triệu lương đệ, cần phải cho người truy cứu dần dần. Xin mẫu hậu bớt nóng giận, kẻo ảnh hưởng đến ngọc thể”

Hắn không nói thì may ra, vừa nói đã càng đổ thêm dầu vào lửa.

“Quả nhiên con bị con hồ li tinh ấy làm mụ mị cả đầu óc rồi! Ả Triệu lương đệ ấy, thoạt đầu thì vì chuyện Tự Nương mà gào khóc, giờ lại mua chuộc người hãm hại Tự Nương! Lại còn vu oan giá họa cho Thái tử phi, có tội khắc phải nghiêm trị!”

Lí Thừa Ngân nói không ngớt: “Xin mẫu hậu nguôi giận, nhi thần biết, Triệu lương đệ tuyệt đối không phải loại người đó, mong mẫu hậu minh xét.”

“Minh xét cái gì? Đứa con trong bụng Tự Nương nào có gây tổn hại đến ai? Vậy mà ả lại xem như cái gai trong mắt! Loại người như thế ngay từ đầu đã là mấm mống tai họa của giang sơn!” Hoàng hậu càng nói càng phẫn nộ, “Vừa mới đưa khẩu cung của ả cung nhân kia ra, con còn không biện bạch hộ Thái tử phi lấy nửa lời, giờ ta nói với con chân tướng sự việc, con đã liến thoắng nói ả hồ ly kia bị oan. Con bây giờ là thái tử, sau này sẽ lên ngôi vua, sao có thể thiên vị tình riêng như vậy! Cứ thế thì làm sao có thể trị vì! Loại mầm mống tai họa này không thể không diệt trừ, nếu không loại bỏ ả, chỉ e sau này con sẽ bị mê hoặc đến độ bỏ bê thiên hạ!”

Lí Thừa Ngân sợ đến nỗi mặt biến sắc, tôi cũng đành quỳ xuống, thưa: “Xin mẫu hậu bớt giận, Triệu lương đệ ắt hẳn chỉ là một lúc hồ đồ, nếu như ban chết cho Triệu lương đệ, chỉ sợ…. e là…” Vế sau tôi nghĩ không biết nên nói thế nào, Lí Thừa Ngân đã tiếp lời: “Xin mẫu hậu cân nhắc, phụ thân và đại huynh của Triệu lương đệ cùng làm quan tại triều, lại là trọng thần được phụ hoàng trọng dụng, xin mẫu hậu cân nhắc.”

Hoàng hậu cười gằn: “Chính con vừa mới nói! Quốc có quốc pháp, gia có gia quy, con không dám vì tình riêng mà bất chấp!”

Mặt mày Lí Thừa Ngân tái mét, chỉ quỳ một chỗ, lại thưa một tiếng: “Mẫu hậu.”

Hoàng hậu nói: “Chuyện Đông Cung, vốn là do Thái tử phi phân xử. Ta bao biện làm thay, cũng là bất đắc dĩ. Loại người ác độc như thế, ta đành phải tự quyết vậy.” nói rồi sai cung nữ đi truyền lệnh. Tôi thấy sự tình không hay, vội ôm lấy gối Hoàng hậu: “Mẫu hậu có thể để con nói vài lời được không ạ? Mẫu hậu đã nói, chuyện Đông Cung sẽ do con xử lý, con biết xưa nay con làm chưa được tốt, nhưng hôm nay xin mẫu hậu cho con được thưa vài lời.”

Dường như Hoàng hậu đã hơi nguôi ngoai, bảo: “Con nói đi.”

“Điện hạ thực lòng yêu thích Triệu lương đệ, nếu mà mẫu hậu ban tội chết cho Triệu lương đệ, chỉ sợ điện hạ cả đời này sẽ không thể sống vui vẻ.” Tôi cuống cuồng nói thành ra câu cú cứ lộn xộn, “Nhi thần cùng điện hạ kết duyên phu thê đã 3 năm, dẫu không được điện hạ yêu quý, nhưng mà con biết, điện hạ tuyệt đối không thể thiếu Triệu lương đệ được. Nếu mà mất đi Triệu lương đệ, điện hạ sẽ càng không thích con. Còn nữa, có rất nhiều việc con làm không nổi, đều do Triệu lương đệ giúp con, những sổ sách của Đông Cung, con xem không hiểu, cũng giao cả cho Triệu lương đệ quản lý, nếu mà không có Triệu lương đệ, Đông Cung chắc sẽ không thể yên ổn như ngày hôm nay…..”

Tôi cuống quá không biết nên nói thế nào, quay ra gọi Vĩnh Nương: “Vĩnh Nương, bà giải thích với Hoàng hậu hộ ta!”

Vĩnh Nương kính cẩn thưa: “Vâng.” Dập đầu rồi nói: “Bẩm nương nương, ý của Thái tử phi là, Triệu lương đệ đã hầu hạ Thái tử bao năm nay, dẫu không có công lao, thì cũng có vất vả. Hơn nữa, hàng ngày Triệu lương đệ đối nhân xử thế cũng không hề có khiếm khuyết, đối với Thái tử phi vô cùng tôn kính, lại một lòng phò tá Thái tử phi quản lý Đông Cung, xin nương nương niệm tình tội của Triệu lương đệ chỉ vì 1 khắc hồ đồ mà mở lòng khoan hồng.”

Hoàng hậu thong thả nói: “Không thể giữ Triệu lương đệ này lại được, giữ ả lại, Đông Cung càng thêm đại họa. Lúc đầu tại đại lễ sắc phong Thái tử phi, Hoàng thượng từng nói, dâu hiền con thảo như vậy, quả thực là phúc của Hoàng tộc chúng ta. Tiếc thay các con thành hôn đã 3 năm, mà vẫn chưa có con nối dõi, bây giờ lại xảy ra chuyện của Tự Nương, thật khiến ta phiền não.”

Lí Thừa Ngân mắt vẫn chăm chăm nhìn sàn nhà, miệng lại nói: “Là nhi thần bất hiếu.”

Hoàng hậu bảo: “Nếu con quả thực có lòng hiếu thảo, thì dành thời gian gần gũi Thái tử phi, cách xa ả tiện nhân kia một chút.”

Lí Thừa Ngân khẽ dạ: “Vâng ạ.”

Tôi còn phải nói gì nữa nhỉ, Vĩnh nương ở đằng sau cứ kéo gấu váy tôi, ý bảo tôi không nên nhiều lời. Khóe môi Lí Thừa Ngân hơi giật giật, nhưng vẫn không hề nói thêm lời nào.

Hoàng hậu nói: “Tất cả đứng dậy đi.”

Nhưng Lí Thừa Ngân vẫn quỳ bất động ở đó, tôi cũng không đành đứng dậy.

Hoàng hậu không liếc đến hắn, chỉ tiếp lời: “Chuyện Tự Nương con đừng quá buồn đau, dẫu sao các con hẵng còn trẻ.”

Lí Thừa Ngân nín lặng, tôi nghĩ chính hắn mới không buồn đau cái quái gì cả ấy, nếu mà thật sự đau lòng, khẳng định đó là vì Triệu lương đệ.

Hoàng hậu lại quyết: “Tự Nương xem ra cũng thật đáng thương, bước tiếp theo phong nàng ta làm Bảo lâm vậy.”(*chú: Bảo Lâm: thiếp của thái tử, vợ cả là Thái tử phi, vợ 2 Lương đệ, vợ 3 Bảo Lâm)

Lí Thừa Ngân mặt mày cơ hồ xám xịt như tro: “Nhi thần không đồng tình….Nhi thần tuổi còn trẻ, Đằng thiếp tại Đông Cung còn nhiều, nhi thần cảm thấy làm như vậy là không thích đáng.”

Tôi biết hắn từng hứa với Triệu lương đệ, sẽ không nạp thêm thị thiếp nào nữa, vậy nên hắn mới nói như thế. Quả nhiên Hoàng hậu lại nổi giận đùng đùng, nói: “Tương lai con sẽ làm Hoàng đế, sao có thể thiếu hiểu biết như thế.”

Hoàng hậu chuyển sang tôi: “Thái tử phi đứng dậy đi, giúp ta đi thăm nom Tự Nương, an ủi nàng ta mấy câu.”

Tôi càng khó xử hơn, cũng rõ ý người muốn xua tôi đi để giáo huấn Lí Thừa Ngân, thế là tôi liền đứng dậy, hành lễ rồi cáo lui.

Thái giám dẫn tôi đến nơi Tự Nương ở, nơi đó là một ngự hoa viên vắng lặng, lần đầu tiên tôi được gặp cái người tên Tự Nương ấy. Nàng ta nằm trên giường, thần sắc võ vàng, nhưng vẫn có thể nhận ra, vốn dĩ nàng ta cũng có nét khá là xinh đẹp. Cung nhân hầu hạ nàng ta bẩm báo: “Thái tử phi đến rồi.” Nàng ta vật lộn một hồi muốn gượng dậy, Vĩnh Nương theo sau tôi vội vàng tiến lên, ấn nàng ta nằm xuống.

Tôi cũng không rõ nên an ủi ra sao nữa, chỉ lập lại những lời Hoàng hậu vừa mới nói: “Muội đừng quá đau buồn, dẫu sau muộn vẫn còn trẻ.”

Tự Nương ngấn lệ nói: “Đa tạ Thái tử phi, nô tì phúc phận bạc bẽo, giờ chỉ mong được ban chết.”

Tôi ngượng ngập nói: “Kỳ thực….làm gì mà lúc nào cũng muốn chết chứ, muội xem, không phải ta vẫn còn rất tốt….”

Tôi nghe Vĩnh Nương ho khan 1 tiếng, biết ngay mình lại nói sai rồi. Tôi bèn hỏi: “Muội muốn ăn gì? Ta có thể bảo người làm rồi đem đến.” Lần trước lúc tôi bệnh, Hoàng hậu cũng phái người đến thăm tôi, luôn miệng hỏi tôi muốn ăn gì hay không, có thiếu thứ gì hay không. Thực ra trong Đông Cung thì có thiếu cái gì nào? Chắc là mượn mấy lời này để biểu thị ý thăm nom đặc biệt thôi. Tôi không biết phải hỏi thăm người ốm như thế nào, đành y chang khuôn mẫu mà làm vậy.

Tự Nương thưa: “Đội ơn Thái tử phi.”

Tôi thấy dáng vẻ nàng ta cứ thảm thương tê tái, dường như rất chán chường ủ ê. Sau thì vẫn để Vĩnh Nương tiến lên, tuôn một tràng dài những lời an ủi. Tự Nương không ngớt lau nước mắt, chúng tôi đã rời đi rồi nàng ấy vẫn còn nằm khóc.

Lúc chúng tôi quay trở về trong cung, Hoàng hậu đã lệnh người thảo chiếu chỉ sắc phong Bảo Lâm, sắc mặt Lí Thừa Ngân khi đó xem ra rất khó coi, Hoàng hậu đương nói đoạn: “Đông Cung cần phải hòa thuận, Thái tử phi tính khí còn trẻ con, nhiều chỗ chăm nom không được chu đáo, có thêm người giúp Thái tử phi cũng là một ý tốt.” Hoàng hậu ngước lên nhìn đúng lúc tôi bước vào, liền vẫy tay tỏ ý, tôi lập tức hành lễ với người, người không để cung nữ bên mình dìu tôi, mà lại đích thân dang cánh tay đỡ tôi dậy, khi ấy quả thật vừa mừng vừa lo. Mọi lần Hoàng hậu đều toát lên vẻ khoan thai đoan trang, ít khi tỏ vẻ thân mật với tôi như thế này.

“Còn về Triệu lương đệ, tội chết có thể miễn, nhưng tội sống khó tha.” Hoàng hậu lạnh nhạt nói, “Cứ phế thành thường dân, giam lỏng 3 tháng, Thái tử không được phép đi thăm nom, bằng không ta sẽ hạ chỉ trục xuất ả khỏi Đông Cung.”

Tôi thấy khóe mắt Lí Thừa Ngân giật liên hồi, nhưng hắn vẫn cúi gằm, ủ rũ lên tiếng: “Xin vâng.”

Vừa ra khỏi Cung, Lí Thừa Ngân đã giáng ngay cho tôi một cái bạt tai, tôi không kịp đề phòng, bất thình lình bị hắn tát một cái thành ra đờ đẫn như trời trồng

A Độ tuốt đao nhảy vọt lên, bỗng chốc “soạt” rồi mũi đao sắc lẹm đã kề ngay gáy hắn, Vĩnh Nương giật mình gào lớn: “Không được!” Chưa đợi bà ấy nói dứt lời, tôi đã hung hăng vả lại Lí Thừa Ngân. Mặc dù tôi không biết võ công, nhưng tôi cũng không phải kẻ dễ chọc, hắn đã dám đánh tôi, đương nhiên tôi phải đánh trả rồi!

Lí Thừa Ngân lạnh lùng cười: “Hôm nay được dịp tốt để giết ta rồi đấy!” Hắn chỉ vào mặt tôi mà nói: “Loại nữ nhân nham hiểm như ngươi, ta biết chính ngươi! Ngươi dựng lên cái bẫy này, đã trừ khử được đứa con con bụng Tự nương thì chớ, lại còn hại đến Sắt Sắt.”

Tôi ức đến nỗi cả người run lên bần bật, nói: “Điện hạ dựa vào đâu má dám nói vậy?”

“Cả ngày người chỉ giả bộ đáng thương trước mặt mẫu hậu, làm ra vẻ ngây thơ, trả vờ cái gì cũng không biết! Đừng tưởng ta không hiểu, ngươi tố cáo ta với mẫu hậu, nói ta lạnh nhạt với ngươi. Ngươi đố kị Sắt Sắt, thế nên mới bầy ra độc kế này nhằm mưu hại nàng ấy, rõ ràng ngươi còn ác độc hơn tất thảy loại rắn độc trên đời này! Bây giờ ngươi vừa lòng rồi chứ, rõ rành rành ngươi muốn tống cổ Sắt Sắt, rõ rành rành ngươi muốn chia cắt bọn ta! Nếu mà Sắt Sắt có mệnh hệ nào, ta tuyệt đối không bỏ qua cho ngươi, ta nói cho ngươi biết, chỉ cần ta đăng cơ Hoàng đế, ta lập tức sẽ phế bỏ ngươi!”

Tôi bị hắn sỉ vả đến nỗi mê muội, tôi gạt phăng A Độ ra, đứng ngay trước mặt Lí Thừa Ngân: “Thế bây giờ ngươi phế ta luôn đi, ngươi tưởng ta thích gả cho ngươi lắm đấy à? Ngươi tưởng ta thèm vào cái địa vị Thái tử phi này lắm đấy à?Namnhi của Tây Lương chúng ta hàng vạn người, ai ai cũng là anh hùng suất chúng, nào có giống như cái loại ăn hại như nhà ngươi! Ngoại trừ biết đọc thi văn ra, ngươi còn biết làm gì không hả? Ngươi bắn tên chính xác còn không bằng ta đấy nhé! Khinh kỵ cũng không bằng được ta! Nếu mà đang ở Tây Lương, loại nam nhân như ngươi ấy à, đến vợ còn khó lấy đấy, ai mà thèm lấy ngươi!”

Lí Thừa Ngân phủi áo bỏ đi trong cơn giận dữ bừng bừng

Trong lòng tôi chợt căm căm từng cơn, ba năm này, chúng tôi cãi nhau liên miên, tôi biết hắn không ưa gì tôi, nhưng tôi nào có ngờ hắn lại hận tôi, ghét tôi, không tiếc lấy một từ ngữ nào tồi tệ nhất để mà rủa sả tôi. Vĩnh nương kéo tôi lên xe, khẽ vỗ về: “Thái tử cũng chỉ vì Triệu lương đệ mà giận cá chém thớt với Thái tử phi, Thái tử phi đừng để bụng.”

Tôi biết chứ, tôi đương nhiên biết chứ, hắn cũng vì cảm thấy Triệu lương đệ chịu phải oan khiên nên mới thỏa sức trút giận lên người tôi, thế nhưng quả thực tôi có làm gì đâu, hắn dựa vào cái gì mà giận lây sang tôi nào?

Hắn bảo tôi đố kị với Triệu lương đệ, tôi có đôi chút ghen tỵ với ả thật, thì là tôi ghen tỵ có người đối tốt với ả đấy, tốt đến chuyện gì lúc nào cũng đặt cả niềm tin ở ả, bảo vệ ả, chăm sóc ả. Nhưng ngoại trừ những việc đó ra, tôi thèm vào mà ghen tỵ với những thứ khác, càng không nghĩ đến việc đi ám hại ả.

Triệu lương đệ nhìn thì có vẻ ôn hòa, lúc đến chơi bài với tôi, tôi cảm thấy ả cùng lắm thì là một nữ nhân có phần sắc sảo mà thôi, sao lại có thể làm chuyện nhẫn tâm như thế chứ? Hơn nữa tôi không cho rằng cách của Hoàng hậu là một ý hay ho gì cả, xem ra Tự Nương là người yếu đuối nhu nhược, dù cho được phong làm Bảo lâm, Lí Thừa Ngân cũng không ưa nàng ta, trong Đông Cung chỉ tổ có thêm một người đáng thương mà thôi.

Đêm thâu, tôi cứ nghĩ mãi chuyện này mà thành ra mất ngủ, buộc lòng phải bật thẳng dậy, hỏi A Độ: “Ngươi thấy Triệu lương đệ giống người xấu không?”

A Độ gật gật, rồi lại lắc lắc.

“Nữ nhi Trung Nguyên nghĩ gì nhỉ, sao ta chẳng hiểu nổi. Đàn ông Tây Lương chúng ta mặc dù cũng được nạp nhiều thiếp đấy, nhưng mà nếu cả nhà không hòa hợp, vẫn có thể đi lấy người khác.”

A Độ gật đầu.

“Vả lại Lí Thừa Ngân thì có gì hay ho đâu chứ, trừ cải vẻ ngoài cũng tàm tạm ra, thì tính khí xấu xa, thái độ lại nhỏ nhen….” Tôi buông mình nằm xuống, “Nếu bảo ta tự mình chọn, ta thèm vào mà lấy hắn.”

Tôi nói toàn những lời thật lòng, nếu mà bảo tôi tự mình chọn lựa, tôi không bao giờ để bản thân rơi vào bước đường thảm thương thế này. Rõ ràng trong lòng hắn đã có người, tôi lại vẫn lấy hắn, thành ra hắn vừa ghét tôi thì chớ, cuộc sống của tôi cũng trở nên chật vật. Giờ Triệu lương đệ bị giam cầm, Lí Thừa Ngân hận thấu tôi rồi, tôi mà lại muốn lấy một người chồng mang thù với mình à.

Nếu như để tôi được tự mình chọn lựa, tôi thà gả cho 1 người đàn ông Tây Lương bình thường, ít ra người ta sẽ thật lòng thích tôi, rong ngựa đèo tôi, đưa tôi đi săn lợn, thổi khèn cho tôi nghe, thế rồi tôi sinh cho người ta 1 đàn trẻ nhỏ, cả nhà vui vẻ êm đềm sống qua ngày….

Thực ra cuộc sống ấy, tôi biết mãi mãi chỉ gặp được trong mơ mà thôi.

A Độ bỗng nhiêm kéo tay tôi, chỉ trỏ ra phía cửa sổ.

Tôi kinh ngạc vô cùng, đẩy mở cánh cửa, trên mái ngói lưu ly ở tòa điện đối diện có một người đang ngồi.

Người đó vận một bộ đồ trắng, nổi bật trên nền ngói lưu ly màu đen, vô cùng bắt mắt.

Tôi nhận ra kẻ đó, lại là cái gã Cố Kiếm kia đây mà!

Tôi đang lưỡng lự xem có nên hô hào “có thích khách” hay không thì hắn đột nhiên đã như một cánh chim, trượt xuống từ nóc điện như thể cưỡi gió, khẽ khàng lanh lẹn đáp ngay dưới bậu cửa sổ trước mặt tôi.

Tôi trợn mắt với hắn: “Ngươi muốn làm gì?”

Hắn không đáp lời, chỉ có ánh nhìn dán trên mặt tôi. Tôi biết trên mặt mình còn có vết hơi sưng, về đến Đông Cung là Vĩnh Nương đã lấy ngay trứng gà luộc lăn cho tôi cả nửa buổi, thế mà trên gò má vẫn còn y nguyên dấu tay đỏ lựng, mãi không tan. Nhưng mà tôi cũng đâu có thiệt, cái tát kia của tôi khẳng định cũng khiến hắn sưng vù cả mặt, bởi lẽ lúc đó tôi vận toàn bộ sức lực, mạnh đến nỗi lòng bàn tay cũng tê rần.

Giọng hắn chỉ mang một nỗi ưu tư lạnh nhạt, dường như đang gồng mình kiếm nén điều gì đó: “Ai đánh nàng thế?”

Tôi xoa xoa gò má, nói: “Không sao, ta cũng đánh trả lại rồi.”

Hắn khăng khăng truy hỏi bằng được: “Là ai?”

Tôi hỏi: “Ngươi hỏi làm cái gì?”

Trên mặt hắn vẫn chỉ có vẻ vô cảm: “Đi giết hắn.”

Tôi hết cả hồn, hắn lại hỏi: “Nàng đã là Thái tử phi rồi, ai dám đánh nàng? Là Hoàng đế? Hay là Hoàng hậu? Hoặc kẻ nào khác chăng?”

Tôi lúc lắc đầu, nói: “Ngươi đừng có hỏi, ta sẽ không nói với ngươi đâu.”

Vậy mà hắn vẫn hỏi: “Nàng bằng lòng đi cùng ta không?”

Cái gã này đúng là quán đản thật đấy, tôi lắc đầu, dợm đóng cửa lại, hắn giơ tay chặn đứng cánh cửa sổ, hỏi tôi: “Nàng vẫn còn giận ta ư?”

Tôi chẳng hiểu đầu cua tai nheo gì cả: “Vì sao ta phải giận ngươi?”

“Chuyện 3 năm trước, lẽ nào nàng không giận sao?”

Tôi thành thật nói với hắn: “Ta quả thực không quen ngươi, ngươi đừng nửa đêm nửa hôm đến đây nói những chuyện khó hiểu này nữa. Nơi đây là Đông Cung, nếu như người ta phát hiện ra, sẽ bị coi như thích khách rồi thì bị ngàn tên bắn chết mất.”

Hắn cười đầy thách thức: ‘Đông Cung ấy à? Cho dù có là Hoàng cung, ta thích vào thì vào, thích ra thì ra, ai làm gì được ta nào?”

Tôi trợn tròn mắt nhìn hắn, tay này tưởng như ngông cuồng đến cực điểm rồi, nhưng mà với võ công của hắn, đoán chừng Hoàng cung đối với hắn mà nói, đúng thật muốn vào thì vào, muốn ra thì ra. Tôi thở dài: “Rốt cuộc ngươi muốn gì?”

“Ta đến thăm nàng.” Hắn hỏi lại một lần nữa: “Nàng bằng lòng đi cùng ta không?”

Tôi lắc đầu.

Hắn tỏ ra tức giận, bỗng đâu lại nắm chặt tay tôi: “Nàng sống ở đây chẳng vui vẻ gì, vì sao không nỡ bỏ đi với ta?”

“Ai nói ta sống không vui vẻ đấy? Vả lại ngươi là ai, sao cứ bận tâm chuyện ta sống vui hay không vui thế?”

Hắn dang tay lôi kéo tôi, tôi khẽ gào lên: “Bỏ tay ra!” A Độ vọt lên, hẳn chỉ phẩy nhẹ tay áo một cái, A Độ đã loạng choạng bật lui vài bước, không đợi A Độ lại lao đến, hắn liền kéo tôi, lúc ấy thân tôi cảm giác như nhẹ bẫng, tựa một con diều giấy bị hắn kéo ra khỏi cửa sổ. Khinh công của hắn cao siêu vô cùng, mang theo tôi mà như thể đang lướt trên gió, tiếng gió không ngừng vỗ bên tai, chẳng mấy chốc chân cũng đã có điểm đáp hạ, nhưng lại là mái ngói bằng lưu ly vừa trơn vừa lạnh. Hắn bắt cóc tôi phi lên đến tận chóp đỉnh của chính điện trong Đông Cung, địa thế nơi ấy là chỗ cao nhất trong Đông Cung, phóng tầm mắt nhìn ra xa, cung khuyết thâm trầm, đền điện chập chùng, đầu củng mái cong, những gờ mái ngói bằng lưu ly, tất thảy dường như đang ẩn mình trong sắc đêm im lìm mà đen tựa nghiên mực.

Tôi vùng khỏi tay hắn, suýt nữa lại trượt chân, buộc lòng phải trợn trừng mắt đối diện: “Chung quy thì người muốn làm gì?”

Hắn lại chỉ xuống dải cung điện ngay dưới chân chúng tôi, nói: “Tiểu Phong, nàng nhìn xem, nàng nhìn nơi này mà xem, tường cao chót vót, bốn bề bao bọc, nơi đây như miệng giếng sâu không thấy được mặt trời, nơi đây làm sao có thể giam giữ nàng?”

Tôi rất không ưa cách hắn gọi tên tôi, điều đó cứ khiến tôi có một loại cảm giác không thoải mái gì, tôi nói: “Thế thì cũng chẳng phải việc của ngươi.”

Hắn bảo: “Rốt cuộc phải làm sao nàng mới chịu theo ta?”

Tôi lườm hắn: “Ta tuyệt đối không theo ngươi đâu, ngươi đừng tưởng bản thân ngươi có võ công cao cường, ta mà la hét ầm ĩ lên, kích động đến Vũ lâm quân, một phát ngàn mũi tên bắn là ngươi sẽ biến thành con nhím ngay đấy.”

Hắn cười nhạt, nói: “Nàng quên ta là ai rồi sao? Một khi ta đã có kiếm trong tay, nàng có gọi toàn bộ Vũ lâm quân trong Đông Cung đến, may ra mới đọ được nửa phần ta.”

Tôi suýt thì quên khuấy mất, độ ngạo mạn của gã cao đến cực điểm. Thế là tôi nhanh trí giở chiêu vuốt mông ngựa: “Võ công của ngươi cao cường như thế, có phải là vô địch thiên hạ rồi không, xưa nay chưa từng thua ai bao giờ à?”

Hắn chợt bật cười, nói: “Nàng thật sự không nhớ được chút nào sao? Ba năm trước ta thua dưới kiếm của nàng.”

Tôi kinh hãi đến nỗi cằm sắp rớt mất tiêu, chỉ hẳn vào mũi mình, run run: “Ta? Thua ta á?” Mấy lời này cũng đáng sợ quá, tôi thậm chí một tí xíu võ công cũng không biết, hắn chỉ vẩy một ngón tay thôi, đã đủ quật nhào tôi xuống đất rồi, sao có thể đọ kiếm để rồi thua tôi được chứ? Tôi đến chuôi kiếm cầm thế nào còn không hiểu đây.

“Đúng thế.” Hắn hết sức bình tĩnh, dường như lại rất thản nhiên, “Lần đó đọ kiếm, chúng ta đã lấy cả đời ra đặt cược, ta thua nàng thì ta sẽ phải làm phu quân của nàng, cả đời yêu thương nàng, trân trọng nàng, đi theo nàng.”

Miệng tôi ngoác to đến nổi khẳng định có thể nuốt được ngay 1 quả trứng gà, không kìm được hỏi: “Thế lần đó nếu mà ta thua thì sao?”

“Nếu mà lần đó là nàng thua, đương nhiên nàng sẽ phải gả cho ta, để ta cả đời này yêu thương nàng, trân trọng nàng, đi theo nàng.”

Tôi lại run lên cầm cập, cụ lớn ơi, đùa người ta cũng đừng đùa kiểu này chứ.

Hắn lại nói: “Ta cũng chẳng nhường gì đâu, nhưng nàng vừa ra tay đã đoạt được kiếm của ta, nên lần đó đành coi như ta thua nàng vậy.”

Tôi có thể đoạt được kiếm của hắn á? Đánh chết tôi cũng không tin đâu nhé!

Tôi giải quyết dứt khoát một chặp luôn: “Cho dù bất kể lần đó ai thua ai thắng, cũng chỉ là mấy chuyện ta không nhớ mình từng trải qua, vả lại ta nào có quen ngươi, chỉ dựa vào cái miệng của ngươi ấy à, ta chẳng thèm tin.”

Hắn cười nhàn nhạt, lấy từ trong tay áo ra một đôi ngọc bội, nói: “Lúc ta và nàng ước định cả đời, từng chia đôi chim uyên ương này ra thành 2 nửa, chỗ ta chỉ có 1 mảnh ngọc bội, mảnh kia ở chỗ nàng. Đôi ta vốn dĩ đã ước hẹn, ngày 15 tháng 6 thời khắc trăng tròn nhất, ta ở ngoài Ngọc Môn Quan đợi nàng, ta sẽ dẫn nàng về nhà ta.”

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 11 Mar 2015 02:51 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47724
Thanks: 321
Thanked: 29450 times
Chương 5


Tôi nhìn tấm ngọc bội trên tay hắn, Tây Lương vốn có rất nhiều thương nhân người Hồ đến làm ăn buôn bán, lại cách vùng sản sinh ra ngọc Hòa Điền không xa lắm, thế nên những trang sức bằng ngọc mà tôi từng nhìn qua, phải nói là đếm không xuể. Kể từ hồi đến Thượng Kinh, mấy bảo vật hiếm có trong Đông Cung cũng vô vàn, thế nhưng tất thảy những miếng ngọc ấy, dường như lại không hề có được vẻ bóng sáng và ôn hòa như đôi ngọc bội này, miếng ngọc màu mỡ cừu tinh tế ấm nhuần đến nõn nà, dưới ánh trăng lại thấp thoáng lan tỏa quầng hào quang.

“Đôi ngọc bội này ta chưa từng thấy bao giờ.” Tính hiếu kỳ của tôi đột nhiên trỗi dậy, “Không phải ngươi nói chúng ta từng hẹn ước sẽ bỏ nhà theo nhau à, vì sao sau đó lại không đi nữa?”

Hắn chầm chậm buông thõng tay xuống, chợt khẽ nói: “Là ta có lỗi với nàng, hôm đó, ta đột nhiên có việc gấp, thế nên không thể ra quan ngoại đợi nàng được. Lúc ta đến được quan ngoại thì đã là ba ngày ba đêm sau kể từ ngày hẹn của chúng ta, lúc ta đến được chỗ hẹn, chỉ thấy mảnh ngọc bội này rơi trên cát sỏi, mà không hề thấy tung tích nàng đâu….” Tôi nghiêng đầu nhìn hắn, biểu cảm ấy quả thật không giống như đang bịa chuyện, nhất là lúc hắn kể về đoạn thất hẹn, khuôn mặt thoáng có nét vừa thất vọng lại vừa đau xót, như thể một nỗi ân hận không nói lên lời.

Tôi thấy câu chuyện hắn kể nhạt nhẽo vô cùng: “Ngươi đã thất hẹn rồi thì còn gì để nói nữa, câu chuyện này chẳng tí thú vị nào cả. Lúc trước ta thật sự không quen ngươi, chắc hẳn ngươi nhận nhầm người rồi.” Tôi xoay ngươi nhìn sắc trời: “Ta phải về đi ngủ đây. Còn nữa, sau này ngươi đừng đến nữa, bị người ta bắt gặp chỉ tổ gây phiền phức cho ta thôi, mấy chuyện phiền phức của ta cũng đủ đau đầu lắm rồi.”

Hắn nhìn chằm chằm vào mặt tôi, nhìn được một lúc lâu mới hỏi: “Tiểu Phong, nàng đang trách ta sao?”

“Ta có rảnh hơi đâu mà đi trách ngươi chứ! Quả thật là ta không quen ngươi.” Hắn im lặng hồi lâu, sau cùng cũng chỉ thờ dài sườn sượt, rồi rút từ trong ngực ra một loại ‘tên kêu’, nói với tôi: “Nếu như nàng gặp phải nguy hiểm, cứ bắn cái này lên trời, ta lập tức sẽ đến cứu nàng.”

Tôi có A Độ bên cạnh rồi, còn gặp nguy hiểm nỗi gì nữa chứ? Tôi quyết không nhận tên của hắn, hắn cứ cố dúi vào tay tôi. Thế rồi tôi được ẵm nhẹ một cái như lúc đi, không đợi tôi thốt ra tiếng nào, vài cái nhảy vọt, đã đáp xuống mặt đất, hắn tiễn tôi về đến tận cửa phòng ngủ của tẩm điện, tôi chưa kịp quay người, hắn đã đứng cách xa tầm mấy trượng. Thoắt đến rồi đi đều trong im hơi lặng tiếng, nháy mắt đã vọt lên mái ngói lưu ly của tòa điện trước mắt, từ xa xa nhìn tôi một cái rồi quay đầu biến mất hút.

Tôi khép cửa sổ lại, tiện tay đưa tên cho A Độ, tôi nói: “Gã Cố Kiếm này mặc dù võ công tuyệt thế đấy, nhưng con người lúc nào cũng lải nhải kiểu điên điên dơ dở, còn cứ bảo ta trước đây có biết hắn, nếu mà trước đó ta quả thực quen hắn, lẽ nào bản thân ta lại không nhớ tẹo nào sao?” A Độ nhìn tôi, ánh nhìn ấy chan chứa nỗi cảm thông dịu dàng, tôi không hiểu vì sao phải nhìn tôi như thế. Tôi thở dài, leo lên giường, A Độ không nói gì nữa, làm sao có thể nói cho tôi đây, cái gã Cố Kiếm này rốt cuộc là ai.

Đại khái thì đêm nay đã phát sinh quá nhiều chuyện, thế nên tôi ngủ không yên giấc, lại còn nằm mơ lung tung. Trong mơ có tiếng người dập dìu thổi khèn, tôi muốn xích lại gần với người đó, thế nhưng phủ kín bốn bề một lớp sương mịt mùng khỏa lấp mặt người thổi khèn, hắn đang đứng tại 1 nơi nào đó, tưởng gần mà lại xa. Trong lòng tôi hiểu, chỉ là đôi chân chẳng dám bước lại gần. Tôi cứ quẩn quanh mãi trong làn sương khói, sau cùng đã tìm thấy người kia, đương lúc hớn hở chạy về phía đó, chợt sa chân trượt ngã, ngã xuống một vực thẳm sâu hun hút.

Khoảng khắc tuyệt vọng lộ ra, bỗng nhiên có người đón lấy tôi từ giữa lưng chừng, gió ào ào lướt qua vành tai, người đó ôm tôi, chúng tôi cứ lao thẳng xuống…. Người đó cứu tôi, trong gió đêm xoay mòng người đó đã ôm tôi….xoay mòng….xoay rồi cứ xoay….những vì tinh tú phủ kín bầu trời kia tựa như giọt mưa sa….Giữa đất trời chỉ có chàng ấy nhìn xoáy vào mắt tôi….đôi mắt này chỉ phản chiếu riêng mình tôi….Tôi sắp say rồi, tôi sắp say ngất rồi, được vùi mình trong vòng tay chàng, chính là người ấy đây mà….tôi biết chàng yêu tôi tha thiết, mà chàng cũng là người tôi yêu đắm say, chỉ cần có chàng ở bên, lòng tôi như dịu lại.

Lúc choàng tỉnh thì trời đã tỏ sáng, bao nhiêu lần rồi giấc mơ ấy ùa về trong tôi, nhưng mỗi lần bừng tỉnh, trong lòng chỉ tàn dư là thất vọng. Bởi lẽ tôi chưa hề một lần được nhìn rõ khuôn mặt cái người cứu tôi trong giấc mơ kia, tôi không biết chàng là ai, mỗi lần gặp mộng mị, tôi đều nỗ lực nhìn cho tường mặt chàng, nhưng chẳng một lần thành công, lần này cũng không ngoại lệ. Tôi lật mình, nhận ra bên gối có đặt một nhành hoa thơm ngát vẫn đọng nguyên một giọt sương mát rượi.

Tôi giật mình, A Độ nằm ngay trước cửa sổ, hầu như không ai có thể né được tai mắt của nàng ấy, trừ cái tay Cố Kiếm nọ. Tôi cuống quýt mở bung cửa sổ, không còn bóng hình áo trắng nào nữa, gã Cố Kiếm kia từ sớm đã lặn mất tăm rồi.

Tôi cắm nhành hoa vào bình, cảm giác tâm trạng cũng tốt hơn đôi chút, thế nhưng tâm trạng chẳng duy trì được bao lâu, bởi lẽ Vĩnh Nương rất chóng vánh đã đến bẩm báo với tôi chuyện hôm qua Lí Thừa Ngân uống say cả đêm, giờ đang bí tỉ, vẫn còn đương đại náo ở bên đó.

Tôi khinh thường gã đàn ông này, phải tôi cũng chẳng thèm xé to chuyện làm gì, là tôi ấy à, tôi cứ lén lút đi thăm Triệu lương đệ đấy, vả lại nàng ta còn sống nhăn ra, thể nào chẳng có cách để hai người đoàn tụ bên nhau. Giữ được rừng xanh, lo gì không có củi đốt nào.

Tôi bảo Vĩnh nương, không cần bận tâm đến Lí Thừa Ngân, kệ xác hắn cho say chết đi.

Mặc dù nói thì thế, nhưng Lí Thừa Ngân 3 ngày liên tục, ngày nào cũng uống đến say mèm, sang ngày thứ 4, thành ra đổ bệnh.

Mỗi lần say xỉn, hắn lại đuổi hết cung nhân ra khỏi điện, cấm chỉ tiếp cận. Thế nên sau cơn say lại thành ra trúng phong hàn, thoạt đầu chỉ đau họng ho khan, sau đó mới sốt cao. Chỗ tôi sống cách hắn quá nửa Đông Cung, tin tức cũng không được linh động, đến lúc tôi biết tin, hắn đã bệnh khá trầm trọng, nhưng trong cung lại chẳng hề hay biết tình hình.

“Điện hạ không chịu uống thuốc, cũng không cho truyền tin vào cung.” Vĩnh nương thì thầm: “Điện hạ vẫn đang giận dỗi với Hoàng hậu nương nương vì chuyện của Triệu lương đệ mà.” Tôi chỉ thấy vừa bực mình lại vừa buồn cười: “Hắn cứ hành hạ bản thân như thế, tưởng hắn đã thay Triệu lương đệ báo thù được rồi chắc?” Vĩnh Nương thưa: “Điện hạ trời sinh bản tính nhân hậu, lại hết mực được cả Bệ hạ và Hoàng hậu nương nương sủng ái, khó tránh khỏi có chút…” bà ấy không tiện nói xấu Lí Thừa Ngân, chỉ nói đến thế đã bỏ ngỏ.

Tôi quyết định đi thăm Lí Thừa Ngân, chỉ lo hắn bệnh chết thật, hắn bệnh chết không quan trọng, cái chính là tôi chưa muốn làm gúa phụ.

Quả nhiên bệnh tình của Lí Thừa Ngân rất trầm trọng, bởi lẽ tôi đã đến trước giường hắn rồi mà hắn vẫn không tỏ thái độ cáu gắt gì, trước kia chỉ cần tôi vừa bước vào tẩm điện của hắn thôi, hắn đã như nhìn thấy chuột bọ rồi hất văng tôi ra ngoài. Cung nữ thay tôi vén mành, tôi thấy sắc mặt hắn đỏ quạnh như con cua luộc chín, nhắc đến món cua, tôi từng có một chuyện tiếu lâm về nó, hồi chưa đến Thượng Kinh, tôi nào đã được thấy con cua. Tết Trùng dương năm đầu tiên, lúc đó trong cung thết yến, trong đó có một món hấp, tôi nhìn đĩa cua đỏ au mà không biết phải ăn ra sao. Chỉ vì chuyện ấy mà Lí Thừa Ngân cay nghiệt với tôi cả một thời gian dài, vừa nhắc đến đã gọi tôi là loại con gái Tây Lương đến con cua mà cũng không biết.

Tôi chìa tay thoa trán Lí Thừa Ngân, bờ trán nóng bỏng rẫy.

Tôi gọi mấy tiếng: “Lí Thừa Ngân này!” hắn cũng không phản ứng gì.

Xem ra là sốt cao mê man thật rồi đây, hắn nằm trên giường thở khò khè từng cơn ngắn ngủi, thậm chí khóe miệng còn tróc lớp da khô màu trắng nhờ.

Tôi toan rụt tay lại, hắn chợt túm chặt lấy tay tôi, lòng bàn tay nóng hầm hập tựa một thanh thép nung đỏ, hơi thở càng dồn dập, lại nghe được tiếng hắn lơ mơ gọi: “Mẹ…mẹ ơi…” Hắn không gọi mẫu hậu, trước kia chưa từng nghe hắn gọi “mẹ”, suy cho cùng, Hoàng hậu vẫn là Hoàng hậu, hắn lại là Thái tử, hai người xưa nay nói năng đều khách sáo khiêm nhường. Bây giờ ngẫm lại Hoàng hậu đối với hắn so với tôi cũng chẳng hơn kém gì, ngoài mấy câu “bình thân”, “ban ngồi”, “lui xuống đi” ra, còn lại toàn trích dẫn điển tích điển cố tràng giang đại hải ra để giáo huấn hắn.

Nghĩ bụng thấy Lí Thừa Ngân cũng đáng thương thật.

Làm Thái tử phi đã rất phiền rồi, cái này không được phép, cái kia cũng không được phép, hàng năm có vô vàn đại lễ cung đình, mặc áo mão đội mũ phượng cả ngày lên lên xuống xuống mệt mỏi đến nỗi rã rời vai lưng. Mà thực ra Hoàng hậu đã châm chước cho tôi rất nhiều, bảo tôi tuổi còn nhỏ, lại từ Tây Lương gả đến Thượng Kinh, thế nên chẳng mấy khi trách móc nặng nề. Mà làm Thái tử so với làm Thái tử phi còn phiền não hơn gấp ngàn vạn lần, có mấy cuốn sách tôi vừa xem đã ong cả đầu, thế mà Lí Thừa Ngân thì quyển nào cũng phải thuộc làu làu.


Văn song thì võ phải toàn, tôi nghĩ ắt hẳn lúc còn nhỏ hắn chẳng có được những ngày vui vẻ như tôi, học nhiều thứ như thế, phiền não chết mất.

Tôi không rụt tay lại được, Lí Thừa Ngân nắm rõ chặt, lúc ấy có cung nhân bưng thuốc đến, Vĩnh Nương tự mình nhận, rồi thì thào nói với tôi: “Bẩm Thái tử phi, thuốc có rồi ạ.” Tôi đành phải gọi: “Lí Thừa Ngân! Dậy uống thuốc nào!” Lí Thừa Ngân không đáp lời, thế nhưng vẫn nắm chắc tay tôi. Vĩnh Nương sai người chèn thêm vài chiếc gối lên đầu giường, rồi để nội quan đỡ Lí Thừa Ngân dậy, nằm nằm nửa tựa vào đầu giường. Vĩnh Nương dùng thìa ngọc bón thuốc cho hắn, nhưng mà hắn mím chặt môi, mỗi một thìa thuốc lại có đến nửa phần men theo khóe miệng chảy ra ngoài.

Tôi ngẫm bụng thấy khó lòng mà chịu được, nói: “Để ta.”Tayphải tôi vẫn bị Lí Thừa Ngân giữ, chỉ cầm được chén thuốc bằng tay trái, tôi quay sang gọi A Độ: “Bịt mũi hắn đi.” A Độ nghe lời tiến lên phía trước, ngắt mũi Lí Thừa Ngấn, hắn bị nghẹt hơi, qua một lúc ngắn ngủi đã hé miệng, tôi lập tức tiện dịp dốc cả bát thuốc vào miệng hắn. Mũi vẫn bịt ngắt, chỉ có thể ừng ực nuốt mấy ngụm, thuốc dốc vội quá, bị sặc cứ ho liên tục, mắt cuối cùng đã khẽ chớp mở: “Nóng…nóng quá…” Thà nóng chết còn hơn bị bệnh chết đấy nhé.

Tôi ra hiệu cho A Độ có thể nới lỏng được rồi, Lí Thừa Ngân vẫn siết chặt tay tôi, thế nhưng lại không hề nhìn tôi thêm một cái, vừa nhắm mắt đã lịm dần trong cơn mê man.

Vĩnh Nương giúp tôi lấy một chiếc đôn, để tôi ngồi bên cửa sổ. Tôi ngồi được một lúc, cảm giác chẳng thoải mái gì. Bởi lẽ cánh tay cứ phải dang ra suốt, tôi sai A Độ dịch đôn đi chỗ khác, mình thì dứt khoát khom người ngồi xổm xuống. Như thế này không cần phải cúi người nữa, thoái mái hơn nhiều, thế nhưng Lí Thừa Ngân vẫn giữ chặt tay tôi, cánh tay tê rần. Tôi định hất ra, nhưng vừa nhúc nhích Lí Thừa Ngân lại càng nắm chắc hơn, A Độ rút đao “soạt” một cái, khoa tay múa chân bên cánh tay Lí Thừa Ngân một lúc, tôi vội vàng lắc đầu, ý bảo không được. Nếu mà chặt cho hắn 1 nhát, Phụ hoàng hắn không lập tức nổi giận dẫn binh tiến đánh Tây Lương mới lạ đấy.

Tôi bắt đầu nhớ đến Triệu lương đệ, ít nhất lúc có nàng ta, tôi không phải chăm nom Lí Thừa Ngân nữa, cho dù hắn có đổ bệnh đến ngố người, cũng thèm vào mà nắm tay tôi chứ nhất quyết không buông như thế này.

Qua một canh giờ, cánh tay tôi đã cứng đờ đến nỗi hoàn toàn mất đi cảm giác, tôi đang cân nhắc xem làm thế nào để cứu Triệu lương đệ ra, để nàng ta đến mà làm việc khổ sai này.

Hai canh giờ sau, nửa bên người tôi đã đờ đẫn đến nỗi tê liệt, tôi thật sự sắp không nhịn được nữa rồi, khẽ giọng gọi Vĩnh Nương. Bà ấy tiến lên phía trước cúi đầu lắng nghe tôi phân phó, tôi cà lăm cà lắp nói với bà ấy: “Vĩnh Nương ơi… ta muốn đi nhà cầu…” Vĩnh Nương lập tức thưa: “Nô tì sai người mang bô đến.”

Rồi bà ấy đi thẳng ra ngoài, tôi không kịp gọi lại. Bà ấy đã căn dặn nội quan khép bình phong lại, thế rồi tất cả đều lui ra ngoài, cửa tẩm điện cũng đóng lại, mặt mày tôi đau khổ nhăn nhó vón thành cục.

“Vĩnh Nương….thế này không được đâu….”

“Nô tì hầu hạ nương nương….”

Tôi chực bật khóc: “Không được! Chỗ này không thể được! Lí Thừa Ngân còn đang ở đây mà…”

“Thái tử điện hạ đâu phải người ngoài…huống hồ điện hạ còn đương giấc.” Vĩnh Nương an ủi tôi, “Vả lại điện hạ và Thái tử phi là phu thê, đã là phu thê thì còn gì lạ lẫm nữa…” tôi không đủ kiên nhẫn để mà nghe bà ấy thao thao bất tuyệt thêm nữa, tôi quả thực mót lắm rồi, thế nhưng trước mặt Lí Thừa Ngân, bảo tôi ở trước mặt một người đàn ông mà lại đi….Tôi chỉ còn nước òa khóc “Vĩnh Nương ơi ngươi mau nghĩ cách đi….mau nghĩ cách đi!”

Vĩnh Nương đắn đo suy nghĩ, tôi lại không ngừng thúc giục, sau cùng chẳng thể nghĩ ra cách nào tốt hơn, mà tôi thật sự không thể nhịn thêm được nữa rồi, đành luyến thoắng nói: “Thôi đi thôi đi, chỗ này cũng được, ngươi che cho ta.” Vĩnh Nương liền nghiêng người chắn giữa tôi và Lí Thừa Ngân, nhưng mà bởi vì Lí Thưa Ngân nắm tay tôi, mà bà ấy lại tuân thủ cung quy không dám quay lưng lại với tôi lẫn Lí Thừa Ngân, thế là chỉ che chắn được có một phần nhỏ. Tôi tháo đai áo mà sợ rợn tóc gáy, không ngừng ló đầu ra canh Lí Thừa Ngân, A Độ giúp tôi gỡ đai áo, lại giúp tôi kéo vạt váy.

Tổng cộng tôi có thuộc cả thể là 3 câu thơ, 1 câu thì đã phô trương trước mặt Bùi Chiếu rồi, chính là cái câu: “Lấy gì giải sầu? Chỉ rượu mà thôi” Vẫn còn 1 câu nữa là: “Dây to nhường đổ mưa rào, Nỉ non dây nhỏ như trò chuyện riêng. Tiếng cao thấp lần chen liền gảy, Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu.”Tại sao tôi lại thuộc mấy câu thơ này ấy à? Là bởi vì năm đó học tiếng phổ thông Trung Nguyên, mấy câu thơ này đọc hay bị líu lưỡi, thế nên tôi cứ đọc đi đọc lại, năm này qua năm khác rồi cũng thuộc lòng luôn.

Dây to nhường đổ mưa rào, Nỉ non dây nhỏ như trò chuyện riêng. Tiếng cao thấp lần chen liền gảy, Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu.……quả nhiên…… nhẹ cả người nhẹ cả người….dễ chịu thật.

Đương lúc tôi thoải mái không kìm được đắc ý, cảm thấy mình có thể nhớ mấy câu thơ khó như thế, đương lúc tưởng chừng như vô cùng tài ba ấy, Lí Thừa Ngân bỗng nhiên khẽ động đậy, rồi choàng mở mắt.

“Á!” Tôi thất thanh kêu lên.

A Độ ngay tức khắc nhảy ra, tuốt đao “soạt” một nhát, Vĩnh Nương nghe thấy tôi gào lên cũng giật nảy mình, nhưng bà ấy đã bị A Độ đẩy sang 1 bên, thanh đao của A Độ kề ngay cổ Lí Thừa Ngân. Taychân tôi vung loạn xạ, vừa túm lấy váy áo vừa thét: “Đừng! A Độ, đừng!” tôi thắt lại đai áo cực nhanh, thế nhưng váy áo Trung Nguyên rườm rà lôi thôi, chính tôi còn không biết mặc thế nào, bình thường luôn có cung nữ Thượng y giúp tôi mặc, tôi cuống quá thành ra thắt nhầm nút chết, cũng chẳng lo được nhiều, lập tức ngăn A Độ lại: “A Độ! Đừng! Hắn chỉ làm ta giật mình thôi!” A Độ thu lại đao, Lí Thừa Ngân nhìn tôi trợn tròn mắt, tôi đợi hắn, hắn dường như vẫn đang có chút hoang mang, ánh nhìn đờ đẫn, trước tiên là liếc đến tấm bình phong đằng sau, sau đó nhìn sang Vĩnh Nương đang trơ như phỗng, rồi trông xuống chiếc bô bên cạnh cửa sổ, sau đó ánh mắt chốt hạ ở bàn tay tôi vẫn đang chết cứng trong tay hắn. Sau cùng chằm chằm vào nút thắt lộn xộn trên eo tôi, khóe miệng Lí Thừa Ngân bỗng nhiên giật giật.

Danh tiếng của tôi ơi….mang vạ rồi! Ba năm này, bất luận là cãi nhau hay gây lộn, tôi chưa từng bị lép vế trước mặt Lí Thưa Ngân, ấy thế mà ngày hôm nay, danh tiếng của tôi thật sự bị hủy hoại rồi. Sự căm phẫn dâng cao đến cực điểm, tôi hung hăng nói: “Chàng dám cười, ta lập tức sai A Độ cho chàng một đao chết ngay!”

Khóe miệng hắn càng giật càng lợi hại, càng giật càng kịch liệt, tuy tôi vẫn hung hãn trợn mắt với hắn, thế nhưng hắn lại cười phá lên. Hắn cười đầy bỡn cợt, tôi cũng chưa từng thấy hắn cười đến mức ấy, cả tẩm điện ngân nga tiếng cười của hắn. Tôi vừa bực vừa thẹn, giành lấy thanh đao trên tay A Độ. Vĩnh Nương la thất thanh một tiếng, tôi lật ngược thanh đao, dùng sống đao chém về phía Lí Thừa Ngân: ‘Chàng tưởng ta không dám đánh chàng chắc? Chàng tưởng chàng bị bệnh thì ta không dám đánh chắc? Ta nói cho chàng biết, nếu không phải sợ Phụ hoàng chàng dẫn binh đánh cha ta, thì hôm nay ta phải chém chết chàng mới thôi!”

Vĩnh Nương đoạn lao lên giữ tôi lại, nhưng bị A Độ chắn ngang, mặc dù tôi dùng sống đao, thế nhưng đập lên người cũng gây đau đớn lắm. Lí Thừa Ngân bị đánh cho vài cái, trái với thường lệ lại không hề quát tôi, thế nhưng hắn cũng chẳng chịu thua, liền giằng lấy đao từ tôi. Hai người chúng tôi quần nhau một trận ngay trên giường, trên tay tôi vẫn lăm lăm thanh đao sắc bén sáng lóa, lao vào không khí cứ kêu vun vút, Vĩnh Nương cuống quýt đến nỗi nhảy dựng cả lên: “Thái tử phi ơi là Thái tử phi, chớ làm Thái tử điện hạ bị thương! Điện hạ, điện hạ cẩn thận!”

Lí Thừa Ngân ra sức muốn đoạt lại thanh đao, giữa ngổn ngang bề bộn nhưng tôi vẫn dặn A Độ: “Đưa Vĩnh Nương ra ngoài đi!”

Không lôi bà ấy đi, vụ này sao giải quyết tới bến được.

A Độ mau chóng lôi Vĩnh nương đi, tóc tai tôi xõa bung, trên đầu có một chiếc thoa kim phượng bỗng nhiên trơn tuột xuống, lủng lẳng bên mai.

Chính lúc phân tâm ấy, Lí Thừa Ngân chiếm đoạt thành công thanh đao trên tay.

Tôi giận tím mặt, nhào đầu về phía trước toan cướp lại. Lí Thừa Ngân đã trở mình bật dậy đứng trên giường, một tay giương cao thanh đao, vóc dáng hắn cao vọt hẳn so với tôi, tôi kiễng chân cũng không tới, tôi bật nhảy mấy lần định chụp lấy chuôi đao, hắn đổi tay, tôi lại nhảy, hắn vẫn đổi…tôi nhún nhảy liên tục những 4-5 lần, lần nào cũng vồ hụt, hắn thế mà tỏ ra đắc ý vô cùng: “Nhảy à! Nhảy nữa đi!”

Tôi tức lắm, thấy hắn chỉ mặc bộ áo ngủ màu vàng bằng lụa, bên dưới lộ ra thắt lưng đỏ nhạt, tôi bỗng nảy ra sáng kiến, chìa tay rút dải thắt lưng ấy. Lúc này Lí Thừa Ngân trở nên luống cuống: “Nàng, nàng định làm gì?” rồi một tay giữ chặt lấy dải đai, tôi chớp thời cơ bật lên đạp vào đầu gối hắn 1 cái, cú đạp này khá mạnh, hắn khụy chân rồi đổ nhào xuống, tôi lao lên tóm lấy cổ tay hắn, thế là thanh đao đã thuộc về tôi.

Đúng lúc A Độ quay trở lại, vừa vén màn đã thấy tôi đang nằm bò trên người Lí Thừa Ngân lôi kéo thắt lưng hắn, mặt A Độ “vụt” đỏ, loáng một cái đã lẩn mất hút.

“A Độ!”

Tôi nhảy dựng lên toan gọi A Độ lại, Lí Thừa Ngân đã giằng lại được thanh đao, chúng tôi lộn 1 vòng, đánh từ trên giường đánh xuống dưới đất, chẳng ngờ hắn trông thế mà cũng biết đánh nhau, trước đây thỉnh thoảng có lần chúng tôi động tay động chân, nhưng trước kia toàn chỉ dừng ở đó là xong, thông thường còn chưa đánh đã bị người ta can ngăn. Hôm nay xem như xưa nay chưa từng có, mặc dù hắn đang bệnh, nhưng trượng phu vẫn cứ là đấng trượng phu, quả thật sức khỏe vô biên cứ y như là lạc đà ấy. Tuy rằng tôi rất có khiếu uýnh lộn, nhưng bất lợi ở chỗ sức không bền, giằng co qua lại một lúc đã đuối dần, sau cùng thanh đao lọt vào tay Lí Thừa Ngân, tôi liều mạng bẻ tay hắn, hắn nới lỏng tay đã quẳng thanh đao sang 1 bên, rồi dùng chân đá văng đi một đoạn rất xa, đợt này thì chúng tôi chẳng ai còn với nổi đao nữa.

Tôi thở hồng hộc, Lí Thừa Ngân vẫn vặn siết lấy cánh tay tôi, chúng tôi như hai cái khóa móc vào nhau bò toài trên thảm. Bờ trán hắn mướt mồ hôi, tốt rồi nhé, đánh một lúc mà cả người đã sũng nước, phong hàn chẳng mấy mà khỏi. Cả hai cùng cầm cự, hắn đã không thể buông tay, tôi cũng chẳng còn sức mà giẫy. Sau cùng Lí Thừa Ngân để ý đến dải lụa thắt ngang ngực tôi, liền chìa 1 tay kéo dải lụa ấy, tôi giật thót tim: “Chàng muốn làm gì?”

Hắn giật phắt đai áo rồi qua quýt trói tay tôi lại, tôi hoảng hồn, chỉ sợ hắn trói tôi lại rồi sẽ bắt đầu đánh tôi, tôi la lớn: “Này! Quân tử đánh nhau không mang thù, chàng dám hành hạ ta, ta sẽ gọi A Độ đến chém chết chàng cho mà xem!”

“Im miệng!”

“A Độ!” Tôi thất thanh gọi, “Mau đến đây đi A Độ!”

Đoán chừng Lí Thừa Ngân đúng là có đôi chút sợ A Độ sẽ đến thật, hắn ta đánh không lại với A Độ. Thế là hắn ngoái đầu dáo dác tìm đồ, tôi đoán hắn muốn tìm thứ gì đó để bịt miệng tôi, nhưng trên giường là một đống nhốn nha nhốn nháo, gối thì đã bị hất văng xuống đất, ngay lập tức làm sao mà tìm được thứ thích hợp chứ? Tuy rằng tay tôi bị trói đấy, nhưng chân vẫn động đậy được, ngúng nguẩy như con cá mắc cạn, thừa cơ gào lên: “A Độ! Mau đến cứu ta! A Độ!”

Lí Thừa Ngân cuống cuồng nhào đến túm lấy tôi, thế rồi hắn dùng chính miệng mình để chặn đứng miệng tôi.

Tôi sững sờ.

Trên người hắn có mùi mồ hôi, có mùi trầm thơm, có mùi thuốc, còn có cả mùi gì đó không tài nào hiểu nổi, mà bờ môi ấy mềm nhũn, nóng rực, giống như một đôi vịt trời nướng được lửa, thế nhưng lại còn mềm hơn cả vịt nướng, tôi chết đứng, hoàn toàn chết đứng. Trợn tròn con mắt, khuôn mặt của Lí Thừa Ngân chiếm trọn tầm nhìn, không, là con ngươi của hắn chiếm trọn.

Chúng tôi cùng trừng mắt với nhau.

Tôi cảm giác, mình ngu ngốc trợn mắt với hắn mà quên luôn cả hít thở.

Dường như hắn cũng quên luôn cả hít thở rồi ngu đần đi trừng mắt với tôi.

Sau cùng tôi mới vừa hé miệng, tính gào to, cánh tay hắn lại siết chặt, tôi càng bị áp sát, tôi vừa định mở mồm, đầu lưỡi hắn đã lao vào trong.

Buồn nôn quá đi mất!

Tôi nổi da gà toàn thân, lông tơ cũng dựng đứng cả lên, vậy mà hắn gặm môi tôi áááááááááááá! Đấy là môi của tôi! Nó không phải móng giò! Cũng không phải gà nướng! Càng không phải đùi vịt đâu nhé! Hắn ôm tôi rồi gặm ngon lành….hắn vừa gặm vừa lần mò quần áo, may mà trên thắt lưng có 1 nút chết, nếu không vạt áo đã bị hắn xé toang rồi, giờ đến váy cũng sắp bị hắn xé thì tôi khỏi sống nữa cho xong

Căm! Uất! Lắm! Rồi!

Tôi liều mạng cắn hắn 1 cái, thế rồi gập chân hung hăng đá hắn!

Hắn bị tôi đá trúng 1 bên, không còn nhúc nhích nổi. Tôi bật dậy, lao như bay, ngồi thụp xuống lượm thanh đao của A Độ lên, cứa 2 3 nhát cho đứt phăng đống dây dợ lằng nhằng trên tay, xong xuôi tôi đã kề đao ngay cổ hắn: “Lí Thừa Ngân! Hôm nay ta liều mạng với ngươi!”

Lí Thừa Ngân thẫn thờ liếc tôi 1 cái, vừa cúi đầu nhìn thanh đao, tôi dí đao sát thêm chút nữa, uy hiếp hắn: “Chuyện ngày hôm nay không cho phép ngươi được tiết lộ ra ngoài, bằng không ngay tối nay ta sẽ sai A Độ đến giết ngươi!”

Lí Thừa Ngân chống tay chễm chệ ngồi, như thể bên cổ chẳng hề có thanh đao sắc bén không gì đọ được, bỗng đâu biến thành một kẻ vô lại: “Chuyện gì ngày hôm nay—-mà không cho phép ta được tiết lộ ra ngoài?”

‘Chuyện ngươi hôn ta, còn nữa….còn….hừ! Dù gì đi chăng nữa, chuyện hôm nay cấm ngươi không được nhắc đến! Bằng không ta cho ngươi chết ngay tại chỗ!”

Hắn lại dí cổ lại gần lưỡi đao hơn: “Thế nàng giết ta luôn đi vậy….nàng như thế là mưu sát tướng công đấy nhé! Còn nữa, nàng mà dám động đến một sợi lông măng của ta thôi, phụ hoàng của ta lập tức sẽ dấy binh, đi đánh Tây Lương của các nàng!”

Vô! Lại! Quá! Thế!

Trong khoảnh khắc tức tối, tôi không rõ nên làm gì, phân vân giữa việc rốt cuộc bây giờ cứ đâm cho hắn 1 đao, hay đợi trời tối, sai A Độ đến dạy dỗ hắn 1 trận.

“Nhưng mà…” hắn nói, “May ra tâm trạng ta mà tốt… thì ta mới không tiết lộ chuyện ngày hôm nay với người khác.”

Tôi cảnh giác nhìn hắn: “Phải làm sao ngươi mới có tâm trạng tốt?”

Lí Thừa Ngân xoa cằm: “Ta nghĩ đã…”

Tôi dữ tợn nói: “Có gì mà phải nghĩ! Dẫu sao ta cứ phải nói cho ngươi biết, ngươi mà dám nói ra, ta lập tức sai A Độ đến cho nhà ngươi 1 đao!”

“Trừ phi nàng hôn ta!”

“Cái gì?”

“Nàng hôn ta, ta sẽ không kể với ai nữa..”

Tôi nhìn hắn đầy vẻ ngờ vực, Lí Thừa Ngân của ngày hôm nay rõ ràng là không giống Lí Thừa Ngân gì cả, trước kia chúng tôi nói chưa quá 3 câu đã hục hặc, Lí Thừa Ngân là loại đáng hận đáng giận đáng ghét….nhưng hôm nay đã trở nên vô lại khốn nạn nanh nọc.

Tôi khốn khổ liều mình đánh bạc 1 phen: “Ngươi nói lời phải giữ lời đấy nhé?”

“Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy.”

Đành vậy, tôi buông đao xuống, nhắm tịt mắt, hung hăng cắn 1 cái lên mặt hắn, cứ cắn cho đến khi hằn vết răng, hắn đau đến nỗi rít một hơi thật sâu. Tôi hôn xong, đang định nhấc đao lên bỏ đi, hắn đã giơ tay kéo tôi lại, kéo tôi vào lòng hắn.

Lại gặm môi tôi trời ạạạạạạạạ!

Hắn gặm một lúc lâu mới buông tôi ra, tôi bị hắn gặm đến ngạt thở, bờ môi bỏng rát, thằng cha này nhất định gặm sưng môi tôi rồi!

Hắn chìa ngón tay vuốt ve môi tôi, nói: “Thế này mới gọi là hôn, biết chưa?”

Tôi thật sự chỉ muốn cho hắn 1 đao, nếu mà không phải bận tâm việc 2 nước giao tranh, dân chúng lâm vào cảnh lầm than, máu chảy thành sông, xương chất thành núi…..tôi bèn miễn cưỡng nhẫn nhịn, ngoác mồm: “Đội ơn bệ hạ đã chỉ bảo thần thiếp!”

“Không cần cảm ơn.” Hắn diễn trò khốn nạn đến tận cùng, “Bây giờ nàng đã biết, đến lượt nàng hôn ta rồi đấy.”

“Vừa nãy không phải hôn rồi à!” Tôi tức đến chồm cả lên, “Nói lời mà không biết giữ lời nhé!”

“Vừa nãy là ta hôn nàng, không phải nàng hôn ta.”

Vì hòa bình hai nước, nhịn nào!

Tôi níu chặt vạt áo hắn, học cách hắn, gặm môi hắn, đùi gà đùi gà đùi gà này….cứ coi như đang gặm đùi gà vậy! Tôi gặm! Này thì gặm! Gặm gặm gặm!

Gặm xong thì buông tay, thấy từ cổ cho đến mang tai hắn đều đỏ lựng cả lên, thậm chi mắt cũng nổi tơ máu, mà hơi thở đang dồn dập.

“Điện hạ lại sốt à?”

“Không!” Hắn kiên quyết phủ nhận, “Nàng có thể đi được rồi.”

Tôi sửa sang lại váy áo, vuốt lại tóc tai, cầm chắc đao, hùng dũng hiên ngang bỏ ra ngoài.

Bên ngoài chẳng có ai, tôi đi thẳng một mạch về đến tẩm điện của mình, mới thấy có đám cung nhân. Bọn họ nhìn thấy tôi, ai ai cũng một vẻ ngẩn tỏ te, mà còn quên luôn cả việc phải hành lễ với tôi nữa chứ. Phải biết rằng bọn họ đều do 1 tay Vĩnh Nương chọn, tất cả đều 1 vẻ hệt như Vĩnh Nương, từng giờ từng khắc đều khắc ghi quy củ phép tắc.

Tôi soi gương, mới hiểu vì sao bọn họ tỏ cái thái độ đấy.

Hệt như quỷ mà…..Đầu bù tóc rối, váy áo xộc xệch, mồm miệng còn sưng vù, cái gã Lí Thừa Ngân khốn nạn ấy, quả nhiên gặm sưng cả môi tôi lên rồi. Đám cung nhân vây quanh đổi áo cho tôi, giúp tôi chải lại đầu, may mà không kẻ nào dám hỏi rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, nếu như bọn họ mà biết được thì, tôi khỏi cần sống ở Đông Cung này nữa rồi. Đương lúc tôi còn đang hậm hực, bên ngoài đột nhiên có người truyền tiếng, nói Lí Thừa Ngân phái thái giám đến tặng đồ tôi. Chuyện này quả hiếm hoi, bọn họ đều hiểu Lí Thừa Ngân chẳng ưa gì tôi, xưa nay nào có cử người đến đưa đồ cho tôi đâu.

Tôi chỉ cảm thấy kì dị, bình thường cãi vã với Lí Thừa Ngân, phải đến mấy ngày hắn không thèm để mắt tôi, hôm nay chúng tôi vừa mới đánh nhau một trận rõ to, hắn lại còn sai người đến tặng quà, thế này thì kì dị quá rồi.

Nhưng mà tôi cũng chẳng phải sợ Lí Thừa Ngân, thế nên tôi liền bảo: “Vậy gọi hắn vào đi.”

Thái giám được phái đến nâng một chiếc khay, trên khay phủ nhiễu đỏ, tôi cũng không nhìn rõ bên dưới là gì. Thái giám được Lí Thừa Ngân phái đến truyền chỉ, thế nên vẫn đứng nguyên ở đó, trang nghiêm đọc chỉ: “Điện hạ nói, trong lúc thiếu kiên nhẫn đã xé hỏng đai áo của Thái tử phi, điện hạ cảm thấy rất áy náy, nay ban riêng cho Thái tử phi 1 đôi dây lụa uyên ương. Điện hạ nói, vốn dĩ phải đích thân mình cài cho Thái tử phi, thế nhưng chuyện vừa mới mệt quá, lại đổ mồ hôi, sợ lại nhiễm cảm mạo, đành cáo lỗi không đến được. Điện hạ còn nói, chuyện ngày hôm nay, điện hạ tuyệt đối sẽ không kể cho người khác, xin Thái tử phi yên tâm.”

Tôi suýt té xỉu vì ức. Đám cung nhân có kẻ ngửa mặt nhìn trời, có kẻ cùi gằm nhìn thảm, có kẻ liều mình cắn môi, lại có kẻ nhăn nhó mặt, còn có kẻ đoán chừng đang cố nín cười, thế nên cơ mặt đang co giật…..tóm lại là chẳng có kẻ nào nhìn tôi cả, tất cả đều tỏ vẻ đang làm gì đó mà không hề nghe thấy.

Lí Thừa Ngân coi như ngươi lợi hại thật! Ngươi bảo thế này là không kể với người khác à? Ngươi chỉ thiếu điều chưa bố cáo với toàn thiên hạ thôi! Còn cố ý nói thế này nữa chứ….Cái kiểu mờ ám không chịu nổi! Khó có ai nghe mà không nghĩ xuyên tạc!

Tôi nghiến chặt răng rồi mới rặn cười: “Thần thiếp tạ ơn điện hạ.”

Lúc này tiểu thái giám mới khúm na khúm núm quỳ xuống hành lễ với tôi, dâng khay quá đỉnh đầu. Tôi cũng không sai người, tự tay lật tấm nhiễu, bên trong quả nhiên là 1 đôi dải lụa tuyệt đẹp có thêu uyên ương, trông phô trương đi liền với cái khay, 1 trận tức tối xộc đến trong tôi, may mà chưa ngất. Cung nữ bên cạnh sớm đã rảo bước lên, giúp tôi đỡ chiếc khay.

Tôi thừa biết Lí Thừa Ngân sẽ không để cho tôi được sống những ngày tháng tốt đẹp, nhưng tôi cũng chẳng ngờ hắn lại xảo quyệt đến thế, dám giở cái trò bôi nhọ thanh danh này. Lúc chập tối thì A Độ cùng vừa về, còn kéo theo cả Vĩnh Nương. Vĩnh Nương trở về chưa quá nửa tuần trà đã có người bẻm mép kể cho bà ấy nghe chuyện lụa uyên ương, Vĩnh nương không dám hỏi gì tôi, nhưng mặt mày không kìm nổi rạng rỡ, thấy môi tôi sưng vù lên, còn sai người chuẩn bị bữa canh đêm. Tôi dám chắc hiện nay cả Đông Cung không ai là không biết, không ai là không hiểu, váy áo tôi xộc xệch, tóc tai tôi xõa xượi, bước ra từ tẩm điện của Lí Thừa Ngân, đến đai áo biến đi đằng nào cũng chẳng hay, thế rồi Lí Thừa Ngân còn ban tặng tôi 1 đôi lụa uyên ương.

Lụa uyên ương à, tôi nghĩ đến 3 chữ ấy thôi đã rợn cả tóc gáy. Lí Thừa Ngân ban cho tôi 3 thước lụa trắng tôi còn không thấy lạ, hắn lại đi ban cho tôi lụa uyên ương, đây rõ là một âm mưu lớn lắm.

Thế nhưng người trong Đông Cung không hề nghĩ thế, nhất là đám cung nữ hầu hạ bên tôi, bây giờ họ đang hả lòng hả dạ, tưởng cuối cùng tôi đã thu phục được Lí Thừa Ngân.

“Điện hạ thế là đã hồi tâm chuyển ý rồi, a di đà phật!”

“Ả họ Triệu kia nhất định đã bỏ bùa điện hạ, muội thấy ả họ Triệu kia vừa bị nhốt lại, điện hạ lập tức đối với Thái tử phi nương nương tốt hơn bao nhiêu.”

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 11 Mar 2015 02:53 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47724
Thanks: 321
Thanked: 29450 times
Phần II _ Vẻ Xuân


Chương 6

Đúng thế! Nương nương của chúng ta vốn có dung mạo mỹ miều, không được điện hạ quan tâm, quả thực trời đất bất dung!”

“Muội có để ý dáng vẻ nương nương lúc thấy dải uyên ương ấy không, mặt ửng hồng e lệ nhé….”

“Đúng thế, là tỷ, tỷ cũng thẹn thùng đấy, điện hạ thật là mạnh dạn….giữa thanh thiên bạch nhật lại sai người ban tặng nương nương cái đó…..”

“Còn phải mạnh dạn hơn ấy….tỷ không thấy nương nương lúc trở về à, đầu bù tóc rối, đến y phục cũng bị bức xé…..có thể thấy điện hạ rất là….rất là khẩn thiết….hì hì….”

…..Tôi lồm cồm bò dậy, nghe cung nữ gác đêm rủ rỉ to nhỏ, chỉ muốn gào thật to lên mà bảo với họ rằng, đấy không phải sự thật, không phải sự thật đâu! Ta đây đỏ mặt là bởi vì tức đấy chứ! Áo váy bị rách là do đánh nhau cơ mà! Tóm lại thì chuyện này về căn bản không hề giống như mấy người bọn họ tưởng tượng!

Lí Thừa Ngân cũng chẳng thật sự thích tôi, hắn chỉ đang rắp tâm làm ô danh tôi.

Chẳng ngờ Lí Thừa Ngân không chỉ cố ý khiến tôi chịu oan ức, mà chủ tâm hắn còn muốn ngậm máu phun người.

Đến hôm sau thì Hoàng hậu đã gọi tôi tiến cung, tôi vừa vái chào xong, người không sai cung nữ đỡ tôi dậy như thường lệ, cũng không nói ban ngồi. Hoàng hậu ngồi trên ngự tọa, độc thoại một bài dài dằng dặc. Tuy rằng lời lẽ vẫn kiểu khách khí xa lạ, thế nhưng tôi thừa hiểu những lời ấy toàn là mấy lời giáo huấn cả.

Tôi đành phải quỳ trên thảm nuốt từng câu dạy dỗ.

Đây quả là chuyện xưa nay chưa từng có, trước kia thỉnh thoảng cũng có lần người mắng tôi, thường thì là vì tôi làm những chuyện quá trớn, ví dụ như ở đại lễ lại quên khuấy mất cung quy, hoặc lúc lễ tổ không cẩn thận lại buông ra mấy lời xui xẻo. Nhưng bảo tôi quỳ ở đây chịu mắng mỏ, có lẽ là lần đầu.

Người bắt đầu dẫn chứng nào là ‘Nữ huấn’ ‘Nữ giới’, sau thì trích dẫn sự tích về những hoàng hậu vừa đức độ lại anh tuệ đã lưu danh triều đại, một tràng dài những lời trưởng giả cứ thế tuôn ra, tôi nghe mà bức rức khó chịu, thậm chí đầu gối cũng bủn rủn, lại không dám với tay ra xoa nắn. Thực ra người thừa biết tôi nghe không hiểu ý nghĩa ẩn dụ trong lời người nói, quả nhiên, sau khi đường hoàng kết thúc bài diễn văn ấy, Hoàng hậu cuối cùng thở dài, bảo: “Con là Thái tử phi, là chính thất của Đông Cung, là mực thước cho thiên hạ. Ngân Nhi tuổi trẻ bồng bột, con phải ở bên mà khuyên nhủ, sao còn có thể để mặc hoàng nhi làm càn như thế? Chẳng nói gì hoàng tộc chúng ta, mà bổn phận của một thê tử bình thường cũng biết nên dè dặt….”

Tôi cuối cùng đã nghe ra ý tứ của người, không kìm được mà phân bua: “Không phải thế đâu ạ, là điện hạ….”

Hoàng hậu lạnh lùng lườm tôi 1 cái, ngắt lời tôi: “Ta biết là do phía hoàng nhi, thế nhưng hoàng nhi thân thể còn đang mang bệnh, con không biết đường cự tuyệt hay sao? Ngộ nhỡ qua cơn thương hàn mà giữ gìn sức khỏe, lại đổ bệnh nặng hơn, vậy thì phải làm sao đây? Tương lai sau này con lên ngôi Hoàng hậu, với tư cách người đứng đầu lục cung, phải làm tấm gương cho hậu cung, con cứ đà này, mai sau làm sao nói được người khác?”

Tôi vừa tức tối lại vừa hổ thẹn, chỉ muốn đào một cái lỗ mà chui vào. Chừng như Hoàng hậu đang mắng tôi không biết giữ thể diện, biết Lí Thừa Ngân đang bệnh mà còn…. còn…. làm …. chuyện ….. đó ….. Thế nhưng có trời mới biết! Chúng tôi vốn có làm gì đâu…..không hề làm mà!

Oan khuất quá, rõ ràng là tôi đang bị vu oan!

Hoàng hậu thấy tôi túng ấm ức ngân ngấn nước mắt, chắc bụng bảo dạy thế cũng đủ lắm rồi, người nói: “Đứng lên đi! Ta chỉ muốn tốt cho con thôi, con biết chuyện này truyền ra ngoài sẽ khó nghe thế nào không, phu thê tuổi còn trẻ thân mật là chuyện bình thường, thế nhưng cũng phải chọn lúc chọn nơi cho thích hợp. Trung Nguyên chúng ta không bì được với Tây Lương, một câu nói tùy tiện cũng giống như một con dao, nhất là trong cung cấm, những chuyện gièm pha vô căn cứ có khả năng giết người cả đấy.”

Vành mắt tôi đỏ hoe: “Con không xứng với ngôi Thái tử phi này….con không thể làm được.”

Hoàng hậu tỏ vẻ như không hề nghe thấy, chỉ dặn dò Vĩnh Nương: “Chăm sóc Thái tử phi cho tốt, còn nữa, Thái tử dạo gần đây lâm bệnh, Thái tử phi còn trẻ người non dạ, trách nhiệm lại nhiều, Thái tử phi không cần phải hầu hạ thuốc thang cho Thái tử. Để Thái tử phi chép phạt ‘Nữ huấn’ mười lần.”

Tôi tức anh ách trong bụng, như thế chẳng phải là coi tôi như hồ ly tinh à! Tôi cuối cùng đã hiểu ra, Lí Thừa Ngân giăng cái bẫy này là muốn tôi chui đầu vào.

Dải uyên ương cái nỗi gì chứ, rõ ràng hại nhau còn hơn cả lụa trắng, lại phải chép mười lần ‘Nữ huấn’, thế là giết tôi rồi còn gì!

Vừa trở về Đông Cung, tôi đã muốn xách đao đi tìm Lí Thừa Ngân sống mái một phen, hắn dám ngấm ngầm mưu tính hại tôi, hắn chán sống rồi! Thế mà Vĩnh Nương ở bên trông coi tôi nửa bước cũng không rời, còn bố trí cung nữ giúp tôi mài mực trải giấy, tôi buộc lòng phải nuốt giận mà chép ‘nữ huấn’, chữ Trung Nguyên vốn đã khó viết thì chớ, mỗi 1 chữ viết ra, trong lòng tôi lại lôi Lí Thừa Ngân ra chửi 1 lượt. Chép xong mấy dòng, trong lòng tôi tổng thể đã chửi Lí Thừa Ngân đến quá trăm lượt.

Tối đến, khó khắn lắm mới đợi được đêm khuya thanh tĩnh, tôi nhẹ nhàng choàng áo vào, A Độ nghe tiếng tôi bật khỏi giường, cũng khó hiểu mà ngồi dậy theo, tôi thì thầm: ‘A Độ, đưa đao của ngươi cho ta.”

A Độ không hiểu tôi muốn làm gì, nhưng vẫn giao cho tôi thanh đao của nàng ấy, tôi lẳng lặng nhét đao vào dưới áo, rồi khoác thêm áo gấm bên ngoài đồ ngủ. Không có A Độ, tôi không lách được đám Vũ Lâm quân trong Đông Cung, thế nên tôi dẫn A Độ theo, rón ra rón rén đẩy cửa bên hông tẩm điện, rồi xuyên qua cầu mái hiên, nhắm thẳng hướng tẩm điện của Lí Thừa Ngân mà đi. Vừa mới lên cầu, A Độ bỗng sững lại.

Thì ra đúng lúc Vĩnh Nương nhấc lồng hương đi tới, quả này chúng tôi bị bà ấy bắt tận mặt rồi.

Mà cũng trùng hợp ngẫu nhiên thật, tôi quên khuấy mất đêm nay là đêm 15, hàng tháng đến dịp Vĩnh Nương lại đi cúng Trăng. Tôi đang suy xét việc có nên bảo A Độ đánh ngất bà ấy không nhỉ, hoặc bà ấy có la lớn, gọi Vũ lâm quân đến, áp tải chúng tôi chăng.

Ai ngờ Vĩnh Nương thấy 2 người bọn tôi, thoạt đầu có ngẩn ra, sau lại ngoái đầu nhìn hướng chúng tôi sắp đi, ánh đèn thoắt ẩn thoắt hiện phía bên đó là tẩm điện của Lí Thừa Ngân.

Tôi thừa cơ liền quay sang nháy mắt ra hiệu với A Độ, ý bảo nàng ấy hạ gục Vĩnh Nương đi. Mắt tôi còn còn chưa kịp nháy, ai dè Vĩnh Nương chỉ khẽ thở dài, nhấc lồng hương, lẳng lặng lách thẳng qua người chúng tôi.

Tôi bối rối đến bán sống bán chết, Vĩnh Nương đi được vài bước, chợt ngoái đầu, nói với tôi: “Gió đêm hơi lạnh, Thái tử phi thăm điện hạ xong thì trở về nhé, chớ để nhiễm lạnh.”

Tôi lại được cơn bực mình, không ngờ bà ấy cho rằng tôi đi gặp riêng Lí Thừa Ngân!

Cái này…..đúng là……Thôi, bỏ qua đi!

Tôi hằm hằm dẫn A Độ chạy thẳng đến tẩm điện của Lí Thừa Ngân, ngày nào chưa bẻ gẫy được răng hắn, ngày đó khó mà rửa được nỗi sỉ nhục này.

Đến trước tường bao ngoài của tẩm điện, A Độ nhẹ nhàng kéo tôi nhảy vọt lên bờ tường, chúng tôi còn chưa kịp đứng vững, đột nhiên nghe thấy tiếng la lớn: “Có thích khách!” tiếp theo đó nào là tiếng binh khí sắc lẹm bổ vào không khí, nào là tiếng cung tên rung bật vun vút, tôi đang nửa chừng ngơ ngác thì đã có vô vàn mũi tên bắn thẳng đến về phía chúng tôi, hệt như 1 trận mưa châu chấu đen kịt bầu trời. Bốn phía đèn đuốc phần phật chỉ trong nháy mắt đã sáng lóa, A Độ chắn trước mặt tôi đánh chặn biết bao nhiêu là tên bay, nàng ấy có chắn cũng không được bao lâu, phút nôn nóng tôi đã nghĩ mình phải quay người nhảy xuống, tránh làm A Độ bị thương, ai ngờ vừa trượt chân 1 cái, đã rơi thẳng từ trên tường cao xuống.

Bờ tường rất cao!

Chỉ nghe tiếng gió quất bên tai vun vút….phen này….phen này ngã thể nào cũng ra thịt băm.

Tôi ngả ngửa người xuống, còn thoáng thấy khuôn mặt A Độ hoảng hốt lo sợ. Nàng ấy phi thân nhào đầu về phía trước toan túm lấy tôi, sau lưng kia là khoảng trời đen kịt, những vì tinh tú rải rắc như vừng trắng, chẳng mấy đã càng lùi càng xa, mà ánh trăng kia trong phút chốc đã bị mái vòm che chắn khuất khỏi tầm mắt….Tôi nghĩ A Độ không túm nổi tôi rồi, tôi rơi xuống chóng vánh quá, vào đúng cái lúc tuyệt vọng ấy, đột nhiên có người ôm lấy thắt lưng tôi, thế ngã cũng bất thình lình chậm dần, người ấy chuyển mình, thế rồi cả cơ thể tôi được bao gọn. Trâm cài đầu bị gió hất bung, tóc xõa tung phấp phới phe phẩy trước mặt, tôi chỉ nhìn được ánh giáp bạc trên thân hình kia, tia sáng phản xạ từ bó đuốc hồng rực liên miên lướt qua, như những bông hoa nhỏ xinh nở rộ trên thân giáp bạc. Những bông hoa lửa li ti phản chiếu trong đáy mắt người đó, mà đôi mắt ấy đang chuyên chú nhìn tôi.

Như bao giấc mơ tôi đã từng mơ….anh hùng cứu mỹ nhân, trong gió đêm xoay mòng người đó đã ôm tôi….xoay mòng….xoay rồi cứ xoay…. những vì tinh tú phủ kín bầu trời kia tựa như giọt mưa sa…. Giữa đất trời này chỉ có chàng ấy nhìn xoáy vào mắt tôi….đôi mắt này chỉ có riêng mình tôi….Tôi sắp say rồi, tôi sắp say ngất rồi, được chàng ấy ôm ấp trong vòng tay, chính là người trong mơ đây mà….

“Bẩm Thái tử phi!”

Chân tôi đã đáp trên mặt đất, tôi ngỡ ngàng bừng tỉnh nhìn người trước mắt, hắn mặc 1 bộ giáp bạc, mắt mày sáng sủa, khí phách hiên ngang. Chính là người đó chăng? Là người bao lần xuất hiện trong giấc mơ tôi, là người anh hùng kiệt suất bao lần cứu tôi khỏi bờ vực nguy hiểm chăng?

Bùi Chiếu khom người hành lễ với tôi, tên từ bốn phía đã ngưng bắn. Hắn đặt tôi trên mặt đất, lúc ấy tôi mới để ý tay mình vẫn đang cứng đờ níu trên cánh tay hắn. A Độ kéo tay tôi, cẩn thận kiểm tra xem tôi có bị thương không, tôi trở nên lúng túng khó xử. Người anh hùng trong giấc mơ tôi có lẽ nào là Bùi Chiếu? Thế nhưng….sao chính tôi lại không biết nhỉ? Song Bùi Chiếu khôi ngô thật đấy, võ công lại cao cường, chỉ có điều sao có thể là hắn? Tai tôi nóng bừng, lại liếc mắt về đằng ấy.

Tối nay xuất quân xui rủi, trước đó đã đụng độ Vĩnh Nương, sau đó lại gặp Bùi Chiếu.

Bùi Chiếu phất tay, cung thủ cùng thị vệ Vũ Lâm quân nháy mắt đã tản đi mắt tăm mất dạng. Tôi thấy mình cũng nên nói gì đó, nghĩ một đằng lại khen 1 lẻo: “Bùi tướng quân quả thật dụng binh như thần….”

“Xin Thái tử phi thứ lỗi cho mạc tướng tội kinh động thánh giá.” Bùi Chiếu chắp tay vái lễ, “Mạc tướng không lường trước được Thái tử phi sẽ vượt tường vào, xin Thái tử phi thứ tội.”

“Cái này không trách ngươi được, ai bảo ta và A Độ trèo tường để bị các ngươi tưởng lầm thành thích khách đâu chứ.”

“Không rõ Thái tử phi đêm khuya đến đây có việc gì ạ?”

Tôi nào có ngu thế, ngu mới kể cho hắn tôi đến tìm Lí Thừa Ngân tính sổ. Thế là tôi cười ha ha: “Ta đến làm gì không thể tiết lộ với ngươi được.”

Biểu cảm trên mặt Bùi Chiếu vẫn cái kiểu đó, hắn cúi đầu buông câu “Vâng ạ.”

Tôi dẫn theo A Độ ngông nghênh tiến về phía trước, bỗng nhiên Bùi Chiếu gọi tôi: “Bẩm Thái tử phi.”

“Gì thế?”

“Tẩm điện của Thái tử điện hạ không phải ở bên đó, là ở đằng này mới đúng.”

Tôi thẹn quá hóa giận, hung hăng nguýt hắn 1 cái, thế nhưng hắn vẫn đứng nghiêm chỉnh cung kính, như thể không hề thấy cái lườm của tôi.


Tôi buộc lòng phải quay lại, đi theo con đường hắn vừa chỉ.

Cuối cùng cũng đến được tẩm điện của Lí Thừa Ngân, tôi ra lệnh cho A Độ: “Ngươi giữ cửa, cấm không cho bất kì kẻ nào vào.”

A Độ gật gật đầu, dùng tay ra hiệu, tôi biết ý của nàng ấy bảo tôi cứ yên tâm đi.

Tôi tiến vào tẩm điện, cung nữ trực đêm vẫn chưa ngủ, bọn họ ngồi dưới ngọn đèn chơi đố chữ, tôi lẳng lặng rón rén từng bước sau lưng bọn họ, không ai phát hiện ra tôi. Tôi mon men vào trong nội điện.

Góc phòng có châm một ngọn đèn, ánh nến hư ảo mịt mùng đổ bóng lên tấm màn, tựa sóng nước dập dềnh khẽ vỗ. Tôi nín lặng lừ lừ bước đến bên giường, chầm chậm vén mành lên, cẩn thận không gây ra bất kì tiếng động nào, 1 tiếng “vút” ập đến bất thình lình, tôi nghiêng mặt theo bản năng, gió lạnh bám dính trên mặt tôi mà lướt qua, cà vào gò má đau ran rát. Tôi không kịp thốt ra tiếng nào, đất trời đã nghiêng ngả, tôi bị ấn chặt trên giường, một lưỡi dao sắc lẹm kề ngay sát cổ họng, chỉ e một chốc lát thôi, cái thứ ấy sẽ rạch toác cổ tôi, tôi hoảng hồn, toàn thân đều nổi gai ốc.

Tôi thấy Lí Thừa Ngân, giữa tối tăm, khuôn mặt hắn toát ra vẻ cương quyết dị thường, hoàn toàn như một người xa lạ. Hắn sít sao nhìn thẳng vào mắt tôi, tôi nằm mơ cũng chẳng ngờ Lí Thừa Ngân lại thủ đao bên mình, thậm chí ngủ trên giường mà cũng đề cao cảnh giác.

“Là nàng à?” Lí Thừa Ngân thu lại thanh đao, tất thảy dường như trở lại dáng vẻ quen thuộc như xưa, hẳn vẽ ra bộ mặt lờ đờ hỏi tôi: “Nửa đêm nửa hôm nàng chạy tới đây làm gì?”

“Hả….không làm gì cả.” Dù sao tôi cũng không thể nói mục đích tôi đến là muốn trói hắn thành cái bánh trưng khổng lồ rồi giã một trận cho bõ tức nhằm trả mối thù bị hãm hại được.

Hắn nửa cười nửa không, liếc tôi: “À, ta biết rồi, nàng nhớ ta chứ gì, thế nên mới đến thăm ta, đúng chưa?”

Tôi thoáng cái đã nhớ ngay chuyện hắn dùng lụa uyên ương để hãm hại tôi ra sao, hại tôi bị Hoàng hậu mắng, còn bị phạt chép sách. Chép sách này! Tôi căm thù chép sách! Tôi rút đao giấu trong lớp áo ra “soạt” 1 tiếng, nghiến răng nghiến lợi: “Chàng đoán đúng rồi đấy, thần thiếp nhớ điện hạ vô cùng!”

Vậy mà hẳn chẳng hề tỏ vẻ sợ sệt, mà còn khẽ bật cười: “Thì ra con gaí Tây Nương các nàng đều cầm đao đi nhớ người ta à!”

“Đừng nhiều lời!” Tôi kề đao vào cổ hắn, “Đưa đao của chàng đây.”

Hắn nhích dần lên phía trước: “Nàng bảo ta đưa là ta phải đưa cho nàng chắc?”

“Đừng có qua….á….” Nửa câu sau của tôi đã bị ép nuốt chửng xuống bụng, rồi thì vai đã bị ôm chặt , không cho phép tôi kịp định thần, hắn lại gặm môi tôi!

……Thật quá đáng!

Lần này hắn gặm rất chậm rãi, như thể đang gặm 1 con cua, tôi từng thấy Lí Thừa Ngân dùng món cua rồi, đúng ra có thể gọi là… tuyệt vời. Hắn nốc sạch thịt ở phần vỏ xong vẫn còn có thể ghép lại nguyên hình một con cua, đoán chừng bản lĩnh còn lợi hại hơn cả mấy cô nương Trung Nguyên dùng chỉ mảnh thêu thùa. Tôi không ngừng khoa tay múa đao sau lưng hắn, chỉ hận không thể chọc cho hắn 1 nhát. Thì cũng chẳng sợ gì, chỉ sợ chiến tranh, cha đã già rồi, nếu như đánh nhau với Trung Nguyên trận nữa, chỉ e cha không gánh nổi, chỉ e Tây Lương khó thắng nổi. Tôi nhịn…..tôi phải nhịn…..hắn gặm môi 1 lúc rồi mới chịu thôi, tôi còn chưa kịp thở hắt ra, thế mà hắn đã bắt đầu gặm xuống cổ, xong rồi, chết rồi, nhất định hắn tính từ từ gặm sạch tôi như gặm 1 con cua đây mà, cổ tôi bị hắn gặm vừa ngứa lại vừa đau, khó chịu không sao nói hết. Hắn cứ thong dong gặm, đang lân la gặm đến thùy tai tôi rồi, phen này chết mất thôi, tôi sợ nhất có người chọc tôi nhột. Hắn cứ thở bên tên thế này, tôi chỉ thiếu điều co giật vì cười, đến nỗi toàn thân nhũn ra chẳng còn tí sức lực nào, thậm chí đao trên tay cũng bị hắn tuốt mất. Hắn quẳng thanh đao sang 1 bên, rồi mon men gặm tiếp phần môi.

Tôi cứ thấy có gì đó bất thường, rồi không biết từ lúc nào, tay hắn đã luồn đến lớp áo trong, cánh tay siết chặt trên eo tôi, tôi bị hắn siết đến nỗi không cựa quậy được, gào lên trong cuống quýt: “Chàng! Chàng! Bỏ tay ra! Không bỏ tay ta gọi A Độ đấy!”

Lí Thừa Ngân cười nói: “Nàng cứ gọi đi! Nàng có gọi cả Đông Cung này đến, ta cũng không để ý đâu, dù gì thì cũng là tự nàng nửa đêm nửa hôm mò vào giường ta cơ mà.”

Tôi tức đến suýt lịm đi, quá quá quá đáng tởm! Miệng hắn phát ra câu nào câu ấy rặt 1 lũ chướng tai. Cái gì mà bò vào giường hắn, tôi…..tôi….tôi phen này có nhảy xuống sông Hoàng Hà cũng không rửa được nhục.

Ngay lúc tôi hùng hổ muốn cho hắn 1 đao thì đột nhiên có luồng gió từ ngoài mành xộc thẳng vào, nhanh như cắt, Lí Thừa Ngân vội vã đẩy tôi một cái rõ mạnh, tôi bị hất vào góc giường, lúc ấy mới nhìn rõ thì ra là một chuôi trường kiếm. Bởi lẽ hắn chỉ vội đẩy tôi mà bản thân hắn lại khó thoát, nhát kiếm ấy xuyên thẳng qua ngực phải. Tôi hét lên, A Độ đã lao vào, thích khách rút kiếm nhằm hướng Lí Thừa Ngân đâm tới, đao của A Độ lúc đầu đã đưa tôi rồi, tình thế gấp rút chỉ kịp lấy chân nến trên bàn phi về phía tên thích khách. Lực cánh tay của A Độ rất mạnh, giá nến như một cây trâm dài ngoẵng xé gió lao vút trong không khí, tên thích khách vừa né được, tôi đã hô hào: “Người đâu! Có thích khách!”

Vũ Lâm quân trực đêm phá cửa lao vào, A Độ đang vật lộn với hắn, từ trong ra ngoài tẩm điện xôn xao tiếng động, trong khuôn viên nhốn nháo ầm ĩ, càng có nhiều người xuất hiện, thích khách thấy tình thế bất lợi liền vọt ra ngoài cửa sổ, A Độ cũng lao theo truy đuổi hắn.

Tôi dìu Lí Thừa Ngân, nửa bên người hắn đã sẫm màu máu tươi, máu không ngừng túa ra từ miệng vết thương. Tôi vừa cuống vừa sợ, thế mà hắn hỏi tôi: “Nàng có bị thương….” Câu nói còn bỏ ngỏ, miệng đã ứa máu, máu của hắn bám đầy trên vạt áo tôi, mắt tôi nhòa ướt, thốt lên tên hắn: “Lí Thừa Ngân!”

Tôi dù ghét Lí Thừa Ngân thật đấy, thế nhưng xưa nay tôi nào có nguyền rủa hắn phải chết.

Hắn hoang mang nắm lấy tay tôi, khóe miệng sũng máu, vậy mà lại cười: “Xưa nay ta chưa từng thấy nàng khóc….chẳng lẽ nàng sợ….sợ làm góa phụ trẻ….”

Lúc này rồi mà hắn còn nói đùa, nước mắt tôi cứ mặc sức trào ra, chân tay lóng ngóng muốn cầm máu cho hắn, thế nhưng phải cầm ở chỗ nào đây, máu tươi len qua kẽ tay, những dóng máu ấm nóng ấy, ngai ngái ấy, biết bao nhiêu là máu đã chảy, sự sợ hãi của tôi lên đến cực điểm. Nhiều cung nữ thấy có động liền chạy vào, có người vừa nhìn thấy máu đã hét lên hãi hùng rồi ngất xỉu, trong điện tức khắc biến thành 1 bãi hỗn loạn. Tôi nghe thấy tiếng Bùi Chiếu từ ngoài lớn tiếng ra lệnh, rồi hắn xông thẳng vào, tôi nhìn hắn như nhìn 1 vị cứu tinh: “Bùi tướng quân!”

Bùi Chiếu thấy tình hình, lập tức gọi người: “Mau đi truyền Ngự y!”

Hắn lao lên phía trước, với ngón tay niêm phong toàn bộ huyệt đạo xung quanh vết thương trên người Lí Thừa Ngân. Hắn thấy tôi vẫn ôm chặt Lí Thừa Ngân, nói: “Thái tử phi, xin người cứ đặt điện hạ xuống, như vậy mạc tướng mới có thể kiểm tra được thương tích của điện hạ.”

Tôi đang hoang mang lo sợ, Bùi Chiếu lại trấn tĩnh như thế, sự bình tĩnh của hắn khiến xoa dịu tôi, tôi nghe lời đặt Lí Thừa Ngân nằm xuống, Bùi Chiếu vạch áo Lí Thừa Ngân ra, hắn hơi chau mày. Tôi không hiểu cái chau mày ấy có ý nghĩa gì, thế nhưng chẳng bao lâu sau tôi đã hiểu, ngự y lập tức xuất hiện, thế rồi quá nửa thái y viện đều bị điều tới Đông Cung. Tin tức được báo về trong cung, nửa đêm cửa phía đông rộng mở, Hoàng đế cùng Hoàng hậu mặc vi phục vội vàng thân chinh xa giá đến Đông Cung.

Tôi nghe ngự y bẩm với Hoàng thượng: “Bẩm bệ hạ, vết kiếm này quá sâu, xin bệ hạ thứ lỗi cho thần ngu muội vô trí, chỉ e….chỉ e vết thương này của điện hạ…..vô cùng đáng ngại….”

Hoàng hậu đã buông giọt nước mắt, người khóc trong nín lặng, không ngừng cầm khăn tay chấm nước mắt. Sắc mặt bệ hạ cũng trở nên xây xẩm, trái lại tôi hoàn toàn không khóc, tôi còn đang đợi A Độ trở về.

Bùi Chiếu phái rất nhiều người đi truy đuổi thích khách, cũng không biết đã truy cứu được gì chưa, tôi không những lo lắng cho Lí Thừa Ngân, còn có nỗi lo về A Độ cứ canh cánh bên lòng.

Sang đến ngày hôm sau, cuối cùng A Độ được người của Bùi Chiếu khiêng về, khi ấy A Độ bị thương rất nặng,. Tôi thốt gọi tên A Độ, nàng ấy khẽ hé mắt nhìn tôi. Nàng ấy toan nâng tay lên, nhưng cánh tay không còn chút sức lực, chỉ có những ngón tay khẽ động đậy, tôi nhìn theo ánh mắt nàng ấy, ánh mắt ấy đăm đăm trên vạt áo tôi

Tà áo tôi bết dính đầy máu, tất cả đều là máu của Lí Thừa Ngân. Tôi hiểu A Độ nghĩ gì, tôi nắm chặt tay nàng ấy, nuốt nước mắt nói: “Ta không sao đâu.”

A Độ dường như buông tiếng thở phào nhẹ nhõm, nàng ấy nhét vào tay tôi 1 vật cứng cứng, thế rồi đã lả người đi.

Tôi vừa đau đớn vừa ăn năn lại vừa hối hận.

Lí Thừa Ngân bị thích khách tấn công ngay trước mặt tôi, hắn đẩy tôi ra, chính mắt tôi chứng kiến thanh trường kiếm ấy găm sâu vào cơ thể hắn. Còn giờ đây, những người bị thương lại bao gồm cả A Độ.

Tội lỗi này đều do tôi mà ra, là tôi bảo A Độ đưa đao cho mình, đến đao mà A Độ cũng không cầm theo, chưa gì đã vội vã truy sát tên thích khách kia.

A Độ luôn theo sát bên tôi, người dám liều mạng bảo vệ tôi chỉ có mình A Độ.

Lúc nào tôi cũng có lỗi với nàng ấy, lúc nào tôi cũng gây họa, để nàng ấy phải chịu khổ thay mình.

Tôi khóc nửc nở một trận.

Không có ai đến an ủi tôi, Đông Cung thì đương cơn hỗn loạn, tất cả mọi người đang chạy đôn chạy đáo tất tả lo cho tình trạng của Lí Thừa Ngân, vết thương nặng thế, sắp chết đến nơi rồi. A Độ cũng sắp chết rồi, cả Lí Thừa Ngân, tướng công của tôi, cả 2 cùng sắp chết rồi.

Tôi khóc một lúc rõ lâu, mãi khi Bùi Chiếu đến, hắn khẽ khàng lên tiếng: “Bẩm Thái tử phỉ.” Rồi thưa, “Người của mạc tướng nói, đương lúc bọn họ truy sát theo tên thích khách, chỉ thấy A Độ cô nương hôn mê bất tỉnh ở đó, mà không hề thấy tăm tích của thích khách đâu, thế nên đành phải đưa A Độ về trước đã. Hiện nay Cửu Môn đã đóng chặt, Thượng Kinh đang giới nghiêm, thích khách không thể đào tẩu được. Ngự Lâm quân đang lục soát trong thành, xin Thái tử phi an tâm, thích khách khó lòng chạy thoát được.”

Tôi nhìn thứ A Độ vừa nhét đưa tôi, vật đó vô cùng kì lạ, chỉ như 1 cục gỗ, trên bề mặt khác hoa văn quái gở, tôi không nhận ra nó là thứ gì.

Tôi giao cho Bùi Chiếu: “A Độ đưa ta thứ này, đoán chừng có liên quan đến hành tung của thích khách.”

Bùi Chiếu chợt hít một hơi thật sâu, nhất định hắn biết vật này. Tôi dặm hỏi: “Đây là gì thế?”

Bùi Chiếu lùi sau một bước, rồi gửi trả khúc gỗ ấy lại cho tôi, thưa: “Đây là việc lớn, xin Thái tử phi cứ đệ trình lên bệ hạ.”

Tôi cũng cho rằng mình phải tấu trình vật này lên Hoàng thượng, tốt xấu sao thì người cũng là Thiên tử, là thân sinh ra tướng công tôi, là vị đế vương có quyền lực tối cao khắp thiên hạ này. Có kẻ dám ám sát nhi tử của người, dám sát hại A Độ, người sẽ giúp chúng tôi truy xét hung thủ.

Tôi quệt khô dòng nước mắt, sai cung nữ thân cận đi trình bẩm, tôi muốn yết kiến Hoàng đế bệ hạ.

Cả Hoàng thượng và Hoàng hậu vẫn ngự ở tẩm điện, chẳng mấy chốc Hoàng thượng đã cho triệu tôi, tôi bước vào thỉnh an người: “Phụ hoàng ạ.”

Rất hiếm khi tôi có dịp thỉnh an Hoàng đế bệ hạ, lần nào gặp, người cũng ngồi trên ngự tọa giữa 1 một khoảng cách rất xa. Gần như thế này thì đây là lần đầu tiên. Tôi nhận ra kì thực người cũng tầm luống tuổi như cha tôi, hai bên mai đã điểm sắc bạc.

Người đối với tôi rất ôn tồn, sai tùy tùng: “Mau đỡ Thái tử phi dậy đi.”

Tôi từ chối cái đỡ của nội quan: “Khởi bẩm phụ hoàng, Tùy tùng của nhi thần là A Độ vừa truy đuổi theo thích khách, kết quả lại trọng thương, mới được Vũ Lâm lang cứu về. Nàng ấy giao cho nhi thần vật này, nhi thần không rõ là gì, nay tấu dâng lên phụ hoàng, nhi thần trộm nghĩ ắt hẳn vật này có liên quan đến thân phận của thích khách.” Tôi dâng cục gỗ ngang trán, đoạn dập đầu: “Mong phụ hoàng phái người kiểm chứng.”

Nội quan đón lấy vật trên tay tôi, trình lên bệ hạ xem, tôi đã thấy nét mặt người biến sắc.

Người đánh mắt quay sang nhìn Hoàng hậu: “Mai Nương!”

Lúc ấy tôi mới biết tên tộc của Hoàng Hậu là Mai Nương.

Sắc mặt của Hoàng hậu cũng tối sầm, bà ta thót bật dậy, chỉ vào tôi: “Ngươi! Ngươi vu cáo hãm hại bản cung!”

Tôi ù ù cạc cạc nhìn bà ấy. Hoàng hậu thiết tha quay người quỳ sụp xuống: “Bệ hạ minh xét, Ngân Nhi là do thần thiếp 1 tay nuôi nấng trưởng thành, tâm huyết cả đời thần thiết đều đặt cả ở Ngân Nhi, thần thiếp tuyệt đối không bao giờ làm hại hoàng nhi!”

Hoàng thượng không buông lời, Hoàng hậu lại quay ra trách cứ tôi: “Ai đã giật dây ngươi dùng loại thủ đoạn này hòng vu khống lật đổ bản cung hả?”

Tôi đây đến mặt chữ cái Trung Nguyên còn không nhớ hết, khúc củi khô ấy có khắc cái gì tôi nào có nhận ra, xưa nay còn chưa từng thấy thứ đó, thế nên đành thuỗn mặt nhìn hoàng hậu.

Cuối cùng, hoàng thượng lên tiếng: “Mai Nương, chỉ e con bé xưa nay ngay đến cả vật này là gì nó còn không rõ, sao có thể vu khống hòng lật đổ nàng được?”

Hoàng hậu cả kinh: “Bệ hạ, bệ hạ chớ cả tin những điều xằng tấu này. Cớ sao thần thiếp phải ám hại Thái tử chứ? Ngân Nhi là do 1 tay thần thiếp nuôi dưỡng trưởng thành, thần thiếp coi hoàng nhi như con ruột….

Hoàng thượng chỉ lạnh nhạt mà rằng: “Con ruột…..chưa chắc.”

Hoàng hậu bưng khuôn mặt đã lã chã những dòng nước mắt: “Bệ hạ nói như vậy, rõ ràng người cũng đang tin vào những điều xàm tấu. Tuy thần thiếp không mang nặng đẻ đau 9 tháng 10 ngày nhưng có khác nào thân sinh ra thái tử đâu? Ngày Ngân Nhi mới chỉ 3 tháng tuổi, thần thiếp đã ẵm vào trong cung, một tay thần thiếp nuôi nấng, chỉ bảo hoàng nhi nên người, dạy dỗ hoàng nhi học hành. Cũng chính thần thiếp trình tấu mong bệ hạ lập hoàng nhi làm Thái tử, tâm huyết cả đời này của thần thiếp đều đặt cả trên người Ngân Nhi, hà cớ gì thần thiếp phải sai người hãm hại con mình?”

Bệ hạ phá lên cười: “Vậy Tự bảo lâm vô tội thì sao, hà tất nàng phải ra tay với Tự bảo lâm?”

Hoàng hậu thót mình ngước mặt trông lên, bà ta ngơ ngác nhìn Hoàng đế.

“Chuyện hậu cung, trẫm không hỏi, không có nghĩa trẫm không biết. Nghiệp chướng nàng tạo vậy cũng đủ rồi. Cớ sao nàng xuống tay với Tự bảo lâm, mà không phải muốn trừ khử Triệu lương đệ? Gia tộc đằng Triệu lương đệ nắm giữ trong tay binh quyền hùng hậu, tương lai sau này Ngân Nhi đăng cơ, cho dù không lập Triệu lương đệ làm Hoàng hậu, ắt cũng phải phong Quý phi. Có đằng ngoại như thế, vậy mà nàng không hề coi như mối hiểm họa từ bên trong. Nàng chỉ một nỗi bất an sau này Ngân Nhi ổn định giang sơn, còn có điều gì khiến nàng sợ hãi? Sợ hoàng nhi sẽ chống lại mẫu hậu là nàng ư?”

Hoàng hậu nhát gừng từng chữ: “Thần thiếp sao phải bất an….ý của bệ hạ, thần thiếp không tài nào hiểu…”

“Phải, sao nàng phải bất an?” Hoàng đế bệ hạ lạnh nhạt nói: “Chẳng phải vì e sợ Ngân Nhi biết, mẫu thân thân sinh ra nó, Thục Phi năm đó….rốt cuộc qua đời như thế nào ư?”

Sắc mặt Hoàng hậu tái mét, cuối cùng bải hoải nhũn mềm ngay tại chỗ.

Hoàng đế đoạn tiếp lời: “Đã đợi được 20 năm rồi, đợi thêm chút nữa có sao đâu? Đợi đến lúc Trẫm băng hà, Ngân Nhi đăng cơ, lập hậu cho Triệu lương đệ, ắt sẽ trở mặt với Tây Lương, đến lúc ấy, ví như hoàng nhi động binh với Tây Lương, nếu thắng, thâm tình giữa thiên triều ta và Tây Lương từ đấy đời đời kiếp kiếp sứt mẻ, chỉ e cuộc chiến ấy cứ thế liên miên, tai họa giáng xuống đầu 2 đất nước, rồi sẽ có ngày lòng dân oán hận sục sôi; còn như chúng ta thua, nàng được dịp mượn gió bẻ măng, phế Ngân Nhi, lập tân đế mới cũng chưa biết chừng. Nước cờ này, phải chăng lúc nàng đệ tấu với trẫm để Ngân Nhi cầu thân với Tây Lương, lúc ấy đã nghĩ thấu đáo cả rồi. Sao đến lúc này nàng đột nhiên lại nóng vội như thế? Lẽ nào vì Thái tử và Thái tử phi bỗng nhiên tình cảm mặn nồng, đôi lứa này phải lòng nhau, lại ngoài dự đoán của nàng hay sao?”

Hoàng hậu thì thào: “Thần thiếp cùng bệ hạ kết tóc se duyên phu thê đã 30 năm năm, thì ra trong lòng bệ hạ nghĩ về thần thiếp quá quắt vậy ư.”

“Không phải trẫm nghĩ nàng quá quắt, mà là tự nàng làm những chuyện quá quắt.” Hoàng thượng lạnh lùng giáng lời, “Gieo nhân nào gặt quả đó, ác giả ắt có ác báo. Nàng hại chết Thục phi, trẫm không hề đổ oan cho nàng. Nàng hại Tự bảo lâm sẩy thai, giam lỏng Triệu lương đệ, Trẫm cũng không hề hỏi đến nàng. Trẫm luôn cho rằng nàng làm tất cả chẳng qua là vì tự vệ, chút tài hèn mọn này, nếu như hoàng nhi của trẫm không ứng phó nổi, vậy cũng chẳng thể nối ngôi kế vị. Thế mà ngày hôm nay, nàng lại táng tận lương tâm, muốn mưu hại Ngân Nhi, con giun xéo lắm cũng quằn, huống hồ hổ dữ còn không ăn thịt con, dẫu rằng hoàng nhi không phải do nàng đích thân sinh ra, nhưng suy cho cùng vẫn là chính tay nàng nuôi nấng trưởng thành, sao nàng dã tâm đến thế?”

Cuối cùng vị Hoàng hậu ấy buông xuôi giọt nước mắt: “Không phải thần thiếp…Dẫu cho Bệ hạ không muốn tin, nhưng thần thiếp thực sự không làm….thần thiếp tuyệt đối không sai người đi hãm hại Ngân Nhi.”

Trong lòng tôi cứ căm căm từng cơn, không dám tin vào chính tai mình nữa, tôi không dám tin tất cả những gì tôi đã chính tai nghe. Một Hoàng hậu cao quý thường ngày ấy, một hoàng hậu ôn tồn thường ngày ấy, vậy mà chính là người đàn bà tâm địa thâm sâu nhường này ư.

Hoàng thượng nói: “Nhưng chuyện nàng từng làm, lẽ nào cần trẫm phải lôi nhân chứng, vật chứng ra tra cứu toàn bộ hay sao, lẽ nào trẫm phải hạ chỉ sai Dịch đình lệnh đến thẩm vấn nàng hay sao? Nếu như nàng thành thật nhận tội, trẫm sẽ niệm tình phu thê 30 năm nay, nhường cho nàng 1 đường sống.”

Nước mắt trên mặt Hoàng hậu đã lã chã như mưa: “Bệ hạ, thần thiếp thật sự bị oan! Thần thiếp bị oan!”

Hoàng thượng vẫn chỉ lạnh nhạt mà rằng: “20 năm trước, nàng sai người hạ độc Ô Tiễn Tử vào thuốc của Thục Phi, gói thuốc Ô Tiễn Tử hình vuông ấy, giờ vẫn còn một nửa, đang đặt ngay trong ô tủ thứ 2 ở chính cung của nàng. Nàng muốn trẫm phái người đi tìm về, gượng ép trẫm bức nàng phải nuốt chỗ Ô Tiễn Tử đó hay sao?”

Hoàng hậu nghe xong câu nói cuối cùng ấy, toàn thân nhũn nhão, nằm liệt trên đất ngất lịm.

Tôi chỉ cảm giác đêm nay tất thảy mọi chuyện đều giống như sấm sét giáng trúng đỉnh đầu, đến giờ những tiếng sấm kia vẫn còn đang đùng đoàng bập bùng nổ bên tai, liên miên từng hồi không dứt, vang dội tới mức tôi chết lặng người, cả cơ thể cứ đờ đẫn như phỗng.

Hoàng thượng quay sang tôi, vẫy tay với tôi. Tôi cẩn thận nhích dần từng bước, quỳ trước mặt người. Người vươn tay, dịu dàng xoa đầu tôi, nói: “Con ngoan, đừng sợ, có phụ hoàng ở đâu, không ai dám làm hại con đâu. Thoạt đầu để Ngân Nhi lấy con, thực ra cũng là ý của ta, bởi lẽ ta biết con gái Tây Lương các con, đối nhân xử thế thật lòng mà hiền hòa.” Trong lòng tôi không hề thấy sợ, bàn tay người ấm áp như thế, dường như bàn tay cha. Hơn nữa thực ra, người có nét giống với Lí Thừa Ngân, trước nay tôi có bao giờ e sợ Lí Thừa Ngân đâu.

Hoàng thượng nói với tôi: “Chăm sóc Ngân Nhi nhé, từ nhỏ hoàng nhỉ đã không được gần mẫu thân, chỉ cần có người thật lòng với nó, dù cho phải móc tim trao cho con nó cũng sẽ làm.”

Dẫu người không căn dặn, tôi cũng sẽ chăm nom Lí Thửa Ngân tử tế.

Thế nhưng sự tình đêm nay quả thật vẫn đang dấy lên cơn kinh hãi trong tôi, tự đáy lòng tôi thấy sợ. Tất thảy những thứ trong cung đều đáng sợ, lòng người sao lại phức tạp đến thế, như Hoàng hậu kia, tôi có chết cũng không ngờ bà ấy lại hại Tự Nương và đứa bé, chỉ vì muốn giá họa cho Triệu lương đệ thôi ư. Tính mạng con người trong mắt bọn họ thật sự rẻ mạt thế thôi sao, rẻ mạt còn không bằng con kiến ư. Lại còn cả Thục Phi người thân sinh ra Lí Thừa Ngân nữa, vì sao Hoàng hậu phải hại chết Thục Phi, chỉ vì muốn tước đoạt con trai của Thục phi hay sao?

Tất thảy thật kinh hoàng, chúng khiến tôi phải ớn lạnh rùng mình.

Vết thương của Lí Thừa Ngân vô cùng hiểm nghèo, đã 3 ngày rồi mà hắn vẫn trong trạng thái hôn mê bất tỉnh. Tôi vẫn trông nom bên hắn cực ngọc không kể ngày đêm.

Tình hình vết thương có chuyển biến xấu, sốt cao, không ăn uống được gì, đến thuốc thang cũng phải cạy răng bón từng chút một.

Tôi nghĩ phen này hắn khó lòng qua nổi.

Nhưng tôi cũng chẳng buồn khóc nữa. Khi đó, vào đúng lúc nguy hiểm nhất hắn đã đẩy tôi ra, nếu mà hắn chết, thì tôi chết cùng với hắn là xong.

Con gái Tây Lương chúng tôi, chẳng ưa cái kiểu cả ngày cứ khóc với chẳng lóc, tôi đã khóc một chập rồi, bây giờ không muốn sướt mướt thêm nữa.

Trong cơn mê man, Lí Thừa Ngân luôn không ngớt thì thào gọi gì đó, tôi áp sát tai nghe, mới rõ hắn đang gọi “mẹ” giống với cái lần phát sốt nọ.

Tôi ngẫm lại những gì bệ hạ từng nói, trong bụng lại thấy mủi lòng, thật ra hắn cũng là 1 kẻ đáng thương, dẫu rằng là Thái tử quyền uy đấy, thế nhưng từ nhỏ nào đã được gặp mẹ ruột mình. Mà tâm địa Hoàng hậu thâm sâu thế kia, nếu mà Lí Thừa Ngân biết bà ta đã hại chết mẹ đẻ mình, trong lòng ắt sẽ đau đớn lắm.

Phần lớn Thái y được phái tới chăm sóc Lí Thừa Ngân. Cùng lúc ấy, Hoàng đế đã hạ chiếu chỉ phế truất ngôi vị Hoàng hậu, việc này gây chấn động lớn trong triều, thế nhưng trong chiếu thư lại nêu ra quá nhiều tội trạng của Hoàng hậu, nhất là hiện nay Lí Thừa Ngân sống chết ra sao còn chưa rõ, chúng đại thần cũng khó lòng nói hộ được. Tôi nghe cung nữ rủ rỉ nói vụng, đằng ngoại tộc Hoàng hậu vốn rất có quyền thế, hiện đang kích động quan viên môn đệ của các các tỉnh dưới chướng, định bụng không phê chuẩn, phản đối việc phế bỏ Hoàng hậu. Những chuyện triều chính ấy tôi khó lòng hiểu được, giờ mới biết hóa ra thân là Hoàng đế không phải cứ muốn làm gì thì làm nấy được.

Buổi sáng tôi đến thăm Lí Thừa Ngân, buổi chiều lại về chăm A Độ.

Trên người A Độ có rất nhiều vết thương, nàng ấy còn trúng nội thương sâu, võ công A Độ tuy cao cường là vậy, tay thích khách kia có thể đánh trọng thương nàng ấy thành ra nông nôi này, xem ra hẳn ắt là loại cao thủ tuyệt thế. Vết thương phải thay thuốc thường xuyên, những đồ nhét trong túi A Độ đều phải móc hết ra vất trên bàn trà. Vậy ra tôi đã đưa cho A Độ cầm biết bao nhiêu là thứ, toàn là những đồ chơi tôi tiện tay thì mua, ví dụ như cái tiêu hình con chim non bằng đất sét, hoặc 1 bông hoa bằng len đỏ. Tôi mua gì đều dúi cả cho A Độ, nàng ta lúc nào cũng dắt bên mình, chỉ sợ lúc tôi cần dùng đến.

A Độ của tôi, A Độ đối với tôi tốt biết bao, lúc nào cũng là tôi làm liên lụy đến nàng ấy.

Lúc tôi thấy chiếc “tên kêu”, một ý nghĩ chợt nảy ra trong đầu, tôi cầm tên, lẳng lặng trở gót bước đi.

Tất thảy kẻ hầu người hạ trong Đông Cung đều đang túm tụm đằng tẩm điện chỗ Lí Thừa Ngân, trong hoa viên quạnh quẽ vắng tanh, chẳng bóng dáng một ai.

Tôi bắn tên lên trời, thế rồi ngồi đợi ở đó trong lạnh lẽo buồn tẻ.

Bẵng đi một lúc, dường như có cơn gió khẽ khàng vung vẩy, Cố Kiếm lặng lẽ đáp xuống trước mặt tôi

Hắn thấy dáng điệu tôi lúc ấy, có vẻ như kinh ngạc lắm, hỏi: “Ai bắt nạt nàng thế?” Tôi cũng biết bộ dạng mình lúc này đây khó coi chết đi được, hôm nọ khóc một lúc lâu, mắt mũi cứ sưng húp cả lên, cộng thêm mấy đêm liền mất ngủ, khí sắc ắt hẳn biến đi đằng nào cũng chẳng hay.

Tôi thuật lại sự tình một cách đơn giản cho hắn nghe, Cố Kiếm trầm ngâm một lúc rồi hỏi: “Nàng muốn ta đi giết Hoàng hậu à?” Tôi lắc lắc đầu.

Hoàng hậu sát hại quá nhiều người, bà ta không xứng sống tiếp trên đời này. Nhưng Hoàng đế sẽ có phán quyết riêng dành cho bà ta, dù cho không ban chết thì cũng sẽ phế truất, rồi nhốt vào lãnh cung. Đối với con người Hoàng hậu mà nói, như thế là đủ rồi, so với giết bà ta còn tàn nhẫn hơn cả.

Tôi van lơn hắn: “Ngươi có thể nghĩ cách cứu A Độ được không, nàng ấy chấn thương bên trong nặng lắm, mãi mà chưa tỉnh.”

Cố Kiếm bất chợt phá lên cười: “Thú vị thật, nàng không yêu cầu ta cứu tướng công nàng, mà lại cầu ta đi cứu A Độ. Rốt cuộc nàng thích phu quân của nàng hay là thích A Độ đây?”

“Lí Thừa Ngân bị thương ngoài, có là thần tiên cũng đành bó tay hết cách, có qua được hay không là số của hắn. Thế nhưng vì ta A Độ mới truy đuổi thích khách, nàng ấy trúng nội thương, ta biết ngươi có cách.”

Khuôn mặt Cố Kiếm xạm lại: “Không sai, ta có cách cứu nàng ta, nhưng sao ta phai cứu nàng ta chứ?”

Tôi nổi giận đùng đùng: “Ngươi từng nói rồi cơ mà, nếu như ta gặp bất kì nguy hiểm gì thì cứ tìm ngươi, bây giờ ngươi lại không nỡ giúp ta!”

Cố Kiếm nói: “Đúng thế, nhưng ta đâu có hứa với nàng rằng sẽ giúp nàng cứu kẻ khác.”

“Bây giờ sinh mệnh của A Độ là đáng lo hơn cả, mạng của A Độ cũng là mạng của ta. Nàng ấy vì ta mà có thể liều mình, giờ nàng ấy lại trọng thương, cũng coi như chính ta bị thương, nếu mà ngươi không cứu nàng ấy….” Tôi tuốt vỏ thanh đao ra, đặt ngay cổ mình, “Ta sẽ chết trước mặt ngươi cho mà xem!”

Cố Kiếm vẩy nhẹ 2 ngón tay, thanh đao nảy một cái, tôi không kịp cầm chắc, thanh đao đã “coong” một tiếng đáp xuống đất.

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 11 Mar 2015 02:55 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47724
Thanks: 321
Thanked: 29450 times
Chương 7


Tôi toan xô hắn ra hòng nhặt đao lên, hắn duỗi tay phẩy nhẹ, chuôi đao đã cuốn theo chiều gió lao đi mất. Tôi nổi giận đùng đùng vung nắm đấm, nắm đấm vung ra chưa chạm được đến vạt áo hắn, hắn đã với tay chặn đứng cổ tay tôi, hốc mắt tôi cay xè nóng xót, bảo: ‘Không cứu thì thôi, ngươi mau cút đi, sau này đừng gặp lại ta nữa!”

Cố Kiếm nhìn tôi trong chốc lát, cuối cùng buông tiếng thở dài, nói: “Nàng đừng giận. Ta đi cứu nàng ấy là được chứ gì.”

Tôi mượn cớ đuổi hết người trong phòng A Độ đi, rồi nhô đầu khoát tay với Cố Kiếm ở ngoài cửa sổ. Hắn từ bên ngoài phốc một cái đã nhảy vào, hoàn toàn không gây tiếng động, Kiểm tra tình hình vết thương cho A Độ xong, hắn nói với tôi: “Kẻ nào ra tay dã man thật, thậm chí tĩnh mạch hầu như đều bị cắt đứt.”

Trong lòng tôi run rẩy, hắn nói thêm: “Nhưng mà ta vẫn có cách cứu.” Hắn liếc qua tôi, “Tuy nhiên ta cứu được nàng ta rồi, nàng định báo đáp ta thế nào đây?”

Bụng dạ tôi nóng như lửa đốt, bảo: “Lúc nào rồi ngươi còn nói mấy lời đấy. Ngươi phải cứu được A Độ, bất kể tốn kém bao nhiêu tiền bạc, ta đều có thể cho ngươi.”

Hắn khinh bỉ đáp: “Ta cần tiền bạc làm gì? Nàng coi thường ta quá đấy.”

Tôi hỏi: “Vậy ngươi muốn gì?”

Hắn cười cười: ‘Trừ phi….trừ phi nàng hôn ta.”

Tôi may mà chưa ngất ngay tại chỗ, sao lũ đàn ông lại thích gặm môi thế nhỉ?

Lí Thừa Ngân đã thế rồi, đến cả gã cao thủ thoát tục Cố Kiếm này mà cũng vậy ư?

Tôi đay nghiến răng lợi, áp sát ôm vai hắn, nhón chân hung hăng gặm 1 thôi 1 hồi.

Chẳng ngờ hắn bỗng nhiên hẩy tôi ra, rồi đùng đùng truy hỏi: “Ai dạy nàng?”

Tai tôi như vịt nghe sấm: “Gì?”

“Trước kia nàng chỉ biết thơm má ta thôi, kẻ nào đã dạy nàng?” Sắc mặt hắn xám xịt, “Lí Thừa Ngân à?”

Tôi chỉ sợ hắn không giúp A Độ nữa, thế nên cũng chẳng dám tranh cãi gì với hắn.

Mặt hắn càng tỏ ra khó coi hơn: “Nàng để Lí Thừa Ngân hôn nàng ư?”

Lí Thừa Ngân là phu quân của tôi, lẽ nào không để hắn hôn tôi được chắc? Thực ra tôi rất sợ Cố Kiếm, sợ hắn tức mình đi giết Lí Thừa Ngân, tại toàn thân hắn cứ gồng cả lên, dường như phát điên lúc nào chảng biết nữa, mà vẻ mặt thì căng thẳng vô cùng, ánh mắt cứ bám xoáy vào tôi.

Cuối cùng tôi khó lòng nhịn được, buông tiếng mắng: “Chính ngươi cũng nói rồi mà, thoạt đầu là ta đợi ngươi 3 ngày 3 đêm, tự ngươi không đến. Bây giờ đừng nói ta quên sạch, cứ cho như ta vẫn còn nhớ, chúng ta cũng chẳng thể ở bên nhau được nữa, ta đã gả cho người ta rồi. Nếu như ngươi đồng ý cứu A Độ rồi thì mau cứu nàng ấy đi, còn như ngươi không đồng ý, ta cũng chẳng ép ngươi đâu, thế nhưng bảo ta phản bội là phu quân của ta, đó là điều tuyệt đối không thể. Nữ tử Tây Lương chúng ta, tuy không giống như con gái Trung Nguyên coi trọng cái gì mà tiết liệt trung trinh, thế nhưng ta lấy Lí Thừa Ngân, hắn đã là chồng ta rồi, không cần biết chúng ta trước đây thế nào, bây giờ giữa ta và ngươi không còn tình cảm gì để bàn đến nữa.”

Cố Kiếm vừa nghe trọn lời ấy, giật lùi mấy bước, tôi chỉ thấy trong đôi mắt ấy bập bùng lửa giận, phải chăng có thêm một loại….đau thương không nói lên lời?

Thế nhưng tôi sớm đã gạt trái tim sang ngang bằng bất cứ giá nào. Những lời ấy sớm đã muốn nói cho Cố Kiếm nghe, Lí Thừa Ngân tốt với tôi cũng được, mà không tốt thì cũng thế cả thôi, vì Tây Lương mà tôi lấy hắn, ngay lúc nguy hiểm nhất hắn lại cứu tôi, thực lòng tôi không nên phản bội hắn.

Tôi nói: “Ngươi đi đi, ta không cần ngươi cứu A Độ nữa.”

Hắn chợt cười: “Tiểu Phong….thì ra đây là báo ứng.”

Hắn dang tay đỡ A Độ dậy, lòng bàn tay chống lưng giúp A Độ trị thương.

Cho đến lúc trời sẩm tối, quá trình chữa trị của Cố Kiếm vẫn dang dở. Tôi ngồi ngay cửa, chỉ sợ có người nhô ra quấy rầy họ. Thế nhưng đã mấy ngày chưa được ngủ yên giấc, tôi dựa vào lan can, mơ màng gần như sắp thiếp đi, may mà chỉ chợp mắt có 1 lúc, tại cộc đầu vào lan can mà lập tức bừng tỉnh cả người. Lúc Cố Kiếm bước ra, tôi hỏi hắn: “Sao rồi?” Hắn lạnh nhạt đáp: “Chết làm sao được.” Tôi chạy vào xem A Độ đang nằm trên giường, sắc mặt hình như cũng tốt hơn nhiều, bất giác buông tiếng thở phào nhẹ nhõm.

Tôi cảm ơn Cố Kiếm hết lần này đến lần khác, hắn vẫn không đáp lời, chỉ rút từ trong ngực ra 1 bình thuốc đưa tôi: “Nàng nói Lí Thừa Ngân bị thương rất nặng đúng không, thuốc này trị thương ngoài rất hiệu nghiệm, đem cho hắn dùng xem.”

Tôi không rõ vì sao hắn tốt bụng đột suất như thế, có lẽ biểu tình trên mặt tôi đang vẽ ra vẻ ngờ vực, hắn lập tức cười khảy: “Sao thế, sợ ta hạ độc hắn à? Vậy trả đây.”

Tôi cuồng quýt giấu bình thuốc vào lòng: “Chữa khỏi cho hắn, ta sẽ lại cảm ơn ngươi nhé.”

Cố Kiếm lại buông tiếng cười khẩy: “Khỏi cần cảm ơn ta, ta chưa định bụng thôi đâu. Đợi nàng chữa lành hắn rồi, ta mới đi giết hắn. Xưa nay ta không quen xuống tay với kẻ không có mảy may sức lực chống cự, lúc hắn khỏi mới là lúc hắn mất mạng.”

Tôi lè lưỡi lêu lêu hắn: “Ta biết ngươi sẽ không dám đâu, đợi vết thương của hắn đỡ hơn, nhất định ta sẽ mời ngươi uống rượu.”

Cố Kiếm không nhùng nhằng với tôi thêm nữa, phẩy tay 1 cái đã trở người biến mất.

Mặc dù nói thì thế, nhưng tôi vẫn đưa bình thuốc cho Ngự y xem, bọn họ lấy thuốc ra ngửi thử, ngắm nghía chán, vẫn không hiểu đó là thứ gì, cũng không dám cho Lí Thừa Ngân dùng. Tôi do dự mất nửa ngày, tránh ra chỗ vắng người, khều ít thuốc bôi lên cánh tay mình trước, ngoại trừ cảm giác mát mát ra, cũng chẳng có gì khác biệt. Hôm sau dậy thì rửa sạch, da chỗ đó trơn bóng, xem ra không có bất cứ vấn đề nào. Tôi thấy yên tâm hơn chút ít, võ công gã Cố Kiếm ấy cao cường là vậy, mấy kẻ tuyệt thế ắt hẳn có thứ gọi là linh đơn thần dược, nói không chừng bình thuốc này hóa ra lại có tác dụng thật. Hôm ấy, tôi nhân lúc không ai để ý, lén bôi ít thuốc lên vết thương trên người Lí Thừa Ngân.

Không biết là thuốc này hiệu nghiệm hay thuốc mà Thái Y viện kê cho cuối cùng đã có công hiệu, dẫu sao, sang đến xế chiều ngày thứ tư thì Lí Thừa Ngân cũng đã hạ sốt.

Hắn vừa giảm sốt, tất cả mọi người đều thở phào nhẹ nhõm bao nhiêu, tôi cũng được người ta khuyên nhủ về đi ngủ. Vừa chập chờn chẳng được bao lâu, lại bị Vĩnh Nương gọi dậy, nét mặt Vĩnh Nương thậm chí còn hoảng hốt, bẩm báo với tôi rằng: “Bệnh tình Thái tử điện hạ đột nhiên có chuyển biến.”

Tôi vội qua tẩm điện chỗ Lí Thừa Ngân, bên đó đã tụ tập không ít người, thái y thấy tôi vào, vội vã nhường đường, tôi bước đến bên giường, chỉ thấy sắc mặt Lí Thừa Ngân trắng nhợt, thở dồn dập từng cơn, miệng vết thương rớm nhiều mủ, mà hắn vẫn hôn mê bất tỉnh, tuy rằng cơn sốt đã thuyên giảm, thế nhưng sao hô hấp càng lúc càng yếu ớt.

Thái Y chẩn đoán: “Phần phổi của điện hạ bị thương, bây giờ phong tà tràn vào tĩnh mạch, vô cùng nguy hiểm đến tính mạng.”

Tôi không hiểu hay là do thuốc trị thương có vấn đề, thế nhưng tất cả những người có mặt trong điện đều thất kinh, Hoàng thượng cũng phái người đến, song tất cả các Thái y hiện nay đều lực bất tòng tâm, chẳng còn cách nào khác. Trong lòng tôi vậy mà lại tĩnh lặng vô cùng, tôi nhón chân ngồi bên giường, nắm chặt tay Lí Thừa Ngân, bàn tay ấy lạnh lẽo, tôi vùi đôi bàn ấy trong tay mình, dùng hơi ấm của chính mình sưởi ấm tay hắn.

Thái y vẫn đang rủ rỉ nói gì đó, tôi cũng chẳng để tâm. Đêm về khuya, trong điện thưa dần bóng người, Vĩnh Nương choàng thêm cho tôi 1 chiếc áo khoác, lúc ấy tôi đang nhoài người bên giường Lí Thừa Ngân, ngắm nhìn hắn không hề chớp mắt.

Hắn cũng đẹp trai thật đấy, lần đầu tiên gặp Lí Thừa Ngân, tôi đã thấy hắn cũng khá ưa nhìn. Đôi mày đen này, rậm này, sống mũi thẳng tắp này, da mặt còn trắng trẻo như ngọc Hòa Điền. Thế mà kiểu trắng muốt ấy không hề giống như con gái đâu nhé, kiểu trắng bóc của hắn có nét thư sinh, không thô sạm như đàn ông Tây Lương chỗ chúng tôi, dường như mang đậm khí chất ôn hòa pha trộn của nước non Trung Nguyên, mang nét đặc trưng riêng của Thượng Kinh.

Đột nhiên tôi nhớ ra 1 chuyện, tôi nói với Vĩnh Nương: “Sai người thả Triệu lương đệ ra, bảo nàng ta đến thăm Thái tử điện hạ.”

Tuy Triệu Sắt Sắt đã bị phế thành thứ dân rồi, nhưng tôi vẫn quen thói gọi Triệu lương đệ, Vĩnh Nương chau mày, bối rối thưa: “Bây giờ Đông Cung xảy ra chuyện lớn như thế, vụ họ Triệu kia lại liên đới đến cả Hoàng hậu….nô tì thấy, nếu mà không có chỉ thị của bệ hạ, Thái tử phi không nên….”

Chẳng mấy khi tôi nổi giận, bảo bà ấy: “Bây giờ Lí Thừa Ngân đã thành ra thế này rồi, hàng ngày hắn yêu quý nhất Triệu lượng đệ, sao không để Triệu lương đệ đến thăm hắn chứ? Vả lại Triệu lương đệ là bị vu oan cơ mà? Đã làvu oan, tại sao không để nàng ta đến thăm Lí Thừa Ngân được chứ?”

Vĩnh Nương đã quen nghe tôi lôi cả tên cả họ Lí Thừa Ngân này Lí Thừa Ngân nọ ra gọi, thế nhưng vẫn chưa quen được cái kiểu tôi ra oai tỏ vẻ Thái tử phi, thế là bà ấy chần chừ mất một lúc. Tôi đanh mặt tỏ vẻ kiên quyết, bà ấy bèn lập tức gọi người đi làm.

Đã nhiều ngày rồi không gặp, Triệu lương đệ giờ đây gầy gò. Trước đây vốn dĩ nàng ta có nét đẹp đẫy đà, bây giờ đã hao mòn đi bao nhiêu, lại mang thân phận thứ dân, nên chỉ ăn mặc đơn giản, càng lộ vẻ liễu yếu đào tơ. Nàng ta quỳ xuống bái chào với tôi xong, tôi nói: “Điện hạ lâm trọng bệnh, gọi muội đến để vấn an người.”

Triệu lương đệ kinh hoàng ngước đầu nhìn tôi, trong mắt đã đong đầy nước. Nàng ta vừa bật khóc, cổ họng tôi đã nghèn nghẹn khó chịu, bảo: “Muội vào thăm đi, nhưng mà cũng đừng có khóc.”

Triệu lương đệ quệt ngang dòng nước mắt, thấp giọng thưa: “Vâng.”

Nàng ta vào 1 lúc lâu, quỳ suốt bên giường bệnh Lí Thừa Ngân, đến cùng vẫn nấc khóc nghẹn ngào, khóc đến nỗi trong lòng tôi cứ nhức nhối mãi không thôi. Tôi ra bậc tam cấp ngoài cửa ngồi, ngước nhìn bầu trời.

Trời đêm đen tựa một màn nhung tơ dát nạm đầy ắp những vì tinh tú.

Tôi thấy mình thật đáng thương, như thể một kẻ thừa thãi.

Lúc ấy có người bước lại gần, khom mình vái: “Thái tử phi ạ.”

Áo giáp trên người hắn phát ra tiếng lanh lảnh nghe hay hay. Thực ra lúc ấy tôi chẳng muốn gặp bất kì ai, thế nhưng Bùi Chiếu từng cứu tôi đến mấy lần, tôi không thể lờ hắn, thế nên đành rặn ra nụ cười: “Bùi tướng quân à.”

“Đêm trở gió lạnh, xin Thái tử phi chớ ngồi nơi gió lùa này.”

Nơi đây lạnh thật, tôi buộc lại áo khoác trên mình, hỏi Bùi Chiếu: “Ngươi đã có phu nhân chưa?”

Bùi Chiếu có phần ngây ngô: “Tại hạ vẫn chưa nạp thê.”

“Trung Nguyên các người, luôn đề cao cái gọi là ‘cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy’.


Thực ra như thế chẳng hay ho gì cả, người Tây Lương chúng ta nếu như tâm đầu ý hợp rồi, chỉ cần bắn một đôi chim nhạn, lấy vải bố gói gọn, gửi đến đằng nhà gái, coi như đã cầu hôn, chỉ cần con gái mình bằng lòng, cha mẹ cũng không ngăn cản. Bùi tướng quân này, nếu mà sau này ngươi nạp thê, nhất định phải lấy người mà ngươi cũng thích. Bằng không, không chỉ ngươi tổn thương, mà người ta cũng đau lòng.”

Bùi Chiếu nín lặng không đáp.

Tôi vẫn ngước mắt trông trời sao, ngậm ngùi thở dài: “Ta thật sự rất nhớ Tây Lương.”

Mà thật ra, tự tôi cũng hiểu, tôi không hẳn chỉ nhớ có Tây Lương thôi đâu, thứ cảm xúc đang mang cứ đong đầy nỗi buồn. Mỗi lúc buồn lại nhớ về Tây Lương.

Tiếng Bùi Chiếu êm dịu cất lên: “Nơi này gió lạnh, hay là Thái tử phi vào điện ngồi.”

Tôi ỉu xìu: “Tốt nhất là ta không nên vào, Triệu lương đệ đang ở trong đó, nếu mà Lí Thừa Ngân tỉnh lại, điện hạ thấy ta vào làm phiền ắt sẽ không bằng lòng đâu. Bây giờ điện hạ đang hôn mê bất tỉnh, cứ để Triệu lương đệ nán lại bên điện hạ một lúc nữa đã, nếu như người biết, nhỡ đâu vết thương sẽ chóng lành thì sao.”

Bùi Chiếu liền thôi không nói gì, hắn lách người lùi lại mấy bước, đứng cạnh tôi. Tôi cũng chẳng buồn nói chuyện với hắn nữa, chống cằm bắt đầu tập trung ngẫm nghĩ xem, nếu mà Lí Thừa Ngân đỡ hơn rồi, biết Triệu lương đệ bị vu oan rồi, nhất định hắn sẽ mừng lắm đây. Lúc ấy Triệu lương đệ có thể khôi phục thân phận Lương đệ, lúc ấy ở trong Đông Cung này, tôi lại trở thành kẻ khiến người ta phải ghét bỏ.

Tối thiểu thì cũng khiến Lí Thừa Ngân thấy mà ghét.

Trong lòng tôi mông lung, mũi chân không ngừng vẽ những nét loạn xạ trên mặt đất. Cũng không rõ đã ngồi được bao lâu, lúc Vịnh Nương ra nhỏ nhẹ nói với tôi: “Để Triệu Sắt Sắt nán lại lâu không hay, nô tì đã sai người đưa thị về rồi.”

Tôi thở dài.

Vĩnh Nương ước chừng đoán ra ý tôi, lại rỉ tai nói nhỏ: “Xin Thái tử phi yên tâm, vừa nãy nô tì luôn túc trực bên cạnh điện hạ, họ Triệu kia cũng không nói gì cả, chỉ khóc thút thít thôi.”

Tôi nào có để ý nàng ta nói gì với Lí Thừa Ngân đâu, mà cho dù nàng ta không nói gì với Lí Thừa Ngân, thì Lí Thừa Ngân vẫn cứ thích nàng ta cơ mà.

Bùi Chiếu khom mình hành lễ với tôi: “Hôm nay Thái tử phi bận bịu nhiều rồi, xin người hãy bảo trọng.”

Tôi lờ đờ đứng dậy, nói: “Vậy ta vào đây.”

Bùi Chiếu vái chào tôi xong, tôi đã quay người bước vào điện, lúc ấy có cơn gió sượt qua thân mình, quả nhiên đem lại cảm giác lạnh lẽo vô cùng, thế nhưng vừa nãy lại không hề thấy thế. Tôi chợt nghĩ, vừa rồi chắc Bùi Chiếu vừa vặn đứng ngay đầu gió che cho tôi.

Bất giác tôi quay ngoắt người, Bùi Chiếu đã lui xuống bậc tam cấp. Đoán chừng hắn không ngờ tôi sẽ ngoái lại, thế nên đúng lúc hắn ngóng theo bóng lưng tôi, tôi vừa quay ra thì bốn mắt gặp nhau, vẻ mặt hắn lúc đó thoáng có nét không tự nhiên, như thể vừa làm chuyện gì sai trái, vội vã đảo mắt nhìn đi chỗ khác.

Tôi chẳng kịp nghĩ xem tại sao Bùi Chiếu lộ vẻ quái đản ấy, chân vừa đặt qua bậu cửa, thấy dáng dấp mặt mày mọi người đăm chiêu ủ dột, tôi cũng chau mày.

Lí Thừa Ngân còn đang hôn mê bất tỉnh, mấy lời của Ngự y nói thì bùi tai lắm, nhưng tôi chẳng nghe lọt câu nào, hắn cứ nằm suốt không tỉnh như thế, chỉ sợ khó mà qua nổi.

Tôi không biết phải làm sao nữa.Tayhắn nhợt nhạt đặt gác lên lớp chăn bông như thể không còn sắc máu hồng hào. Tôi xoa xoa bàn tay ấy, nó đang lạnh buốt.

Tôi mệt mỏi lắm rồi, đã mấy ngày chưa được chợp mắt, tôi ngồi chồm hỗm bên giường, bắt đầu lải nhải tâm sự với Lí Thừa Ngân, trước đây chẳng bao giờ được trò chuyện với hắn kiểu này, mà trước đó giữa chúng tôi chỉ toàn là hằm hè cãi vã. Cái lần đầu tiên tôi được gặp hắn, là khi nào ấy nhỉ? Là đêm tân hôn, hắn nhấc khăn voan trùm đầu của tân nương là tôi, cái đêm ấy bị khăn che kín mít suốt cả buổi, buồn bực đến bí bách. Khăn voan vừa được nhấc lên, tôi chỉ thấy trước mắt sáng lóa, nến lung linh khắp phía ánh trên khuôn mặt, trên thân người hắn. Hắn mặc bào đen, trước ngực thêu rất nhiều những hoa văn tinh xảo. Mấy tháng trước đó dưới sự đôn đốc cua Vĩnh Nương, tôi đã thuộc làu làu như cháo chảy quyển “Lễ Điển”, giờ đã hiểu đây là áo huyền, huân xiêm, thêu 9 chương. 5 chương trên áo có rồng, núi, chim trĩ, lửa, tôn ri; 4 chương trên xiêm có rau tảo, gạo trắng, búa, phất. Áo trung đơn bằng sa trắng, cổ áo lễ có thêu hoa văn nửa đen nửa trắng, viền xanh đen, có tự và tà áo. Dây lưng to bản da tê , móc vàng sáng chói, đai trắng thuần trong không màu son, cũng vải lông lấy màu đỏ thắm và xanh lục, khuy đan bện. Hoa văn tùy theo màu áo, 2 chương gồm lửa và núi cũng vậy.

Hắn mặc áo cổn mũ miễn của dịp đại lễ, ngọc trắng chín chuỗi kết thành dải, màu xanh khoáng như băng lụa phủ qua tai, cài trâm bằng sừng tê, tôn lên vẻ khôi ngô tuấn tú, dung mạo đường đường.

Thái tử của Trung Nguyên, đến quần áo nón nảy cũng nhiều trò lắm, tôi nhớ hồi học “Lễ điển”, phải đọc rất lâu mới nhớ được đoạn này, thậm chí có nhiều chữ tôi cũng chẳng biết là gì.

Ngẫm lại lúc ấy tôi thích hắn, mà hắn vẫn chẳng hề thích tôi. Hắn nhấc khăn đội đầu xong, rượu hợp cẩn còn chưa uống, cứ thế quay gót bỏ đi.

Thực ra, hắn đi rồi tôi mới thở phào, cũng tại tôi chẳng hiểu mình có quen ngủ bên cạnh một người đàn ông xa lạ không nữa.

Tối đó Vĩnh Nương ở bên tôi, bà ấy sợ tôi nhớ nhà, lại sợ tôi giận, mấy lần giải thích cho tôi nghe, Thái tử điện hạ dạo gần đây bị cảm, ắt chỉ lo Thái tử phi bị lây.

Đợt cảm cúm ấy của hắn, phải dông dài đến 3 năm.

Ở Đông Cung này, mình tôi trơ trọi trong nỗi cô đơn.

Một thân một mình từ xa xôi nghìn trùng đến được đây, dẫu có A Độ đi theo, thế nhưng A Độ lại không biết nói. Nếu mà không cãi vã với Lí Thừa Ngân, ngẫm ra nỗi cô đơn cứ thế mà chồng chất.

Giờ hắn sắp chết rồi, tôi lại đi liệt kê hết mấy điểm tốt của hắn, tôi vắt óc nhớ, mấy chuyện trước đây đều kể tuốt, tôi chỉ sợ không kể cho hắn nghe, sau này hắn chết rồi lại không có cơ hội kể. Có nhiều thứ tôi cứ tưởng mình đã quên bẵng rồi, thực ra vẫn còn nhớ lắm. Thậm chí tôi còn nhớ nguyên mấy câu cãi vã mỗi lần tôi và hắn hục hặc lẫn nhau, tôi kể bằng sạch cho hắn nghe, nói cho hắn biết lúc ấy tôi tức thế nào, tức muốn chết luôn. Nhưng mà tôi vẫn tỏ vẻ không thèm để bụng, tôi biết để cãi thắng được thì chỉ cần giả vờ không thèm quan tâm, Lí Thừa Ngân toàn bị tôi chọc tức đến nghẹn họng không nói lăng được gì.

Lại nói chuyện dải lụa uyên ương, khiến bao nhiêu người cười tôi đấy nhé, Hoàng hậu còn giáo huấn tôi 1 thôi 1 hồi.

Tôi cứ kể không ngơi, chẳng biết vì sao mình phải thế, biết đâu là vì sợ, có lẽ vì sợ Lí Thừa Ngân chết thật. Đêm thâu tĩnh mịch, ánh nến xa xa bập bùng tỏa trên màn, nội điện sâu hun hút, tất thảy tưởng chừng như có lớp màn cách trở, cách trở bởi đêm tối mịt mùng, cách trở bởi quạnh quẽ, chỉ có tôi là đang thì thào nói cho mình nghe.

Thật ra tôi sợ làm quả phụ trẻ lắm. Ở Tây Lương chúng tôi, những người phụ nữ có chồng quá cố đều buộc phải tái hôn với em chồng, như công chúa Minh Viễn của Trung Nguyên được gả đến chỗ chúng tôi ấy, đáng nhẽ là lấy bá phụ, sau này tái giá với phụ hoàng tôi. Mặc dầu Trung Nguyên không có tập tục ấy, thế nhưng vừa nghĩ đến việc Lí Thừa Ngân qua đời, tôi không đừng được cơn buốt cóng, nếu mà hắn chết, tôi nhất định sẽ còn chật vật hơn bây giờ nhiều. Tôi cuống cuồng ngăn mình thôi đừng nghĩ tiếp nữa, gồng lên rặn ra mấy câu chuyện phiếm chẳng đâu vào đâu.

Thì tôi cũng chẳng ngờ hóa ra mình không ghét Lí Thừa Ngân như vẫn nghĩ, mặc dù hắn toàn chọc tôi bực mình thật đấy, nhưng trong 3 năm, số lần gặp gỡ giữa chúng tôi vỏn vẹn đếm trên đầu ngón tay, ngoại trừ mấy lần hắn vì Triệu lương đệ mà đến hỏi tội tôi ra, thì trước đây chúng tôi cũng chẳng cãi vã là mấy. Có lúc không hằm hè nhau, tôi còn thấy không quen cơ…

À còn vụ chép sách, tuy tôi ghét chép sách nhất trần đời, nhưng mà cũng tại mấy lần bị phạt chép quá nhiều sách, mà bây giờ vốn từ Trung Nguyên của tôi cũng mỗi lúc một khá hơn rồi, đều tại mấy quyển sách bị phạt chép ấy. Nào là “Nữ huấn” “Nữ giới”, chép đến nỗi tôi thuộc làu làu luôn. Còn có 1 chuyện này nữa chứ, tôi chưa hề kể cho ai biết đâu, ấy là trong sách có nhiều chữ tôi không quen mặt chữ cho lắm, cũng không biết đọc thế nào, thế là tôi vẽ lại y nguyên, tô từng nét từng nét 1, ai mà biết thực ra tôi không biết chữ ấy nào.

Còn nữa, cái chữ “Ngân” trong “Lí Thừa Ngân” ấy, cái chữ này cũng gàn dở lắm, hồi đó lần đầu tiên nhìn thấy, tôi cứ tưởng nó là chữ “Cần”….Bụng cứ bảo không biết chữ ấy rốt cuộc có ý nghĩa gì, nghe nói người Trung Nguyên hay coi trong chuyện đặt tên lắm, sao hắn lại được đặt cái tên ấy nhỉ?(*chú: Cần đây勤, Ngân đây鄞, giống nhau khác mỗi bộ bên tay phải nên dễ nhầm)

Tôi độc thoại cả nửa buổi rồi, mấy khi có người đáp lời, tôi nhất thời buột miệng hỏi lại: “Gì? Ngân Châu nào?”

“Thái tổ Hoàng đế nguyên gốc Ngân Châu….phía đông Trung Châu, phía nam Lương Châu….địa thế rồng bay hổ cuộn… thế nên…. Ta mới có tên là Thừa Ngân….”

Tôi há hốc mồm nhìn, nhìn cái gã đang nằm thở thoi thoi trên giường, giọng hắn bé xíu, nhưng câu chữ mạch lạc, tinh thần trông cũng rất tỉnh táo, mắt khép hờ, nhìn thẳng vào tôi.

Tôi ngây ra mất 1 lúc lâu, cuối cùng giật nẩy người, lớn tiếng hét: “Á!”

Giọng tôi nhất định rất kinh khủng, thế nên toàn bộ mọi người đều ào ào xộc vào, Thái y tưởng tình trạng Lí Thừa Ngân thêm chuyển biến xấu, cuống cuồng lao lên: “Điện hạ sao rồi? Điện hạ sao rồi?”

Tôi chỉ tay vào Lí Thừa Ngân, gần như líu lưỡi: “Điện hạ…. điện hạ….”

Lí Thừa Ngân nằm trên giường, mặt mày vô cảm nhìn xoáy vào tôi, Thái y đã sướng rên đến nỗi khóc thầm: “Điện hạ tỉnh rồi! Điện hạ tỉnh rồi! Mau, mau sai người vào cung bẩm báo bệ hạ! Thái tử điện hạ tỉnh lại rồi….”

Cả Đông Cung nháo nhác cả lên, ai ai cũng phấn chấn, Thái y nói, chỉ cần Lí Thừa Ngân có thể tỉnh lại, chắc chắn vết thương không còn trở ngại gì nữa. Phen này mấy người đằng Thái y viện vui vẻ reo hò, người nào người nấy mặt mày rạng rỡ, cung nhân cũng vui như Tết, vội loan báo khắp nơi. Ngự y bắt mạch lần nữa, cân nhắc kê thuốc, cứ chạy tới chạy lui, ầm ĩ như ong vỡ tổ, nửa đêm nửa hôm đi qua đi lại làm tôi chỉ muốn được đánh một giấc.

Tôi không rõ mình thiếp ngủ từ lúc nào, chỉ nhớ lúc ấy ngự y vẫn rì rầm to nhỏ gì đó bên tai, tới khi tỉnh dậy đã thấy mình đang nằm bò bên mép giường, trên người còn phủ ngay ngắn một chiếc chăn bông. Đùi rơi vào trạng thái tê cứng do nằm lâu, không tài nào nhúc nhích được, vừa động đậy xương cốt toàn thân đã kêu răng rắc….Tôi đánh một giấc ngon lành, thậm chí còn nhỏ dãi lên tay áo của Lí Thừa Ngân, ơ….tay áo của Lí Thừa Ngân à!

Vậy ra tôi đang bò toài trên giường hắn, gác cằm lên cánh tay hắn ngủ suốt đêm, trong nội điện lặng ngắt như tờ không một bóng người, Lí Thừa Ngân nằm bên vẫn đang tỉnh táo, hơn nữa còn đang vẽ ra khuôn mặt nửa cười nửa không ngắm nghía tôi.

Tôi bắt gặp nét mặt ấy nơi hắn, bụng bảo dạ thế là hắn đã tai qua nạn khỏi. Đến lượt tôi trầy trật toan thu bên chân đã tê rần của mình lại, thử rồi mới biết chỉ tổ toi công, vật lộn một lúc lâu mãi không đứng lên nổi, lại còn phần eo…..Trời thì sáng bảnh mắt rồi, chỗ thắt lưng vừa mỏi nhừ vừa đau nhức, cứ như thể cả đêm qua bị xe bò nghiền xéo trên lưng ấy, sau này cấm chỉ không ngủ kiểu này nữa.

Cố mãi không xong, cuối cùng đành chống giường ngồi dậy, tính sải chân thử xem, đang phân vân giữa gọi người vào đỡ mình hay là đợi một lúc nữa chân bớt tê rồi duỗi thử thì hơn nhỉ. Ngay lúc này Lí Thừa Ngân lại buông lời: “Nàng định đi đâu đấy?”

“Về ngủ tiếp…” đễn lưỡi cũng rã rời cả rồi, mở miệng nói mà suýt nữa cắn phải lưỡi, nguy hiểm thật.

“Ai bảo nàng ngủ như lợn ấy, bạ đâu ngủ đấy, vừa nằm xuống đã ngáy, gọi như hò đò vẫn không dậy.”

Tôi nín nhịn không ném cho hắn 1 cái lườm, thằng cha này vừa mới khỏi bệnh đã dồn sức cãi nhau với tôi rồi đây.

Hắn vỗ vỗ vào chỗ cạnh mình trên giường.

“Làm cái gì đấy?”

“Không phải nàng muốn ngủ à? Đằng nào thì giường này cũng đủ rộng.” Chiếc giường quả thực rất rộng, giường chỗ Lí Thừa Ngân lớn hơn hẳn mấy chiếc giường bình thường khác, 8-10 người leo lên còn dư xài ấy chứ. Nhưng mà vấn đề không phải ở đấy, trọng điểm ở đây là, tôi không cầm được lòng hỏi: “Điện hạ muốn ngủ chung với thần thiếp à?”

Vẻ mặt Lí Thừa Ngân lại không như thế: “Có phải chưa từng ngủ chung đâu.”

Thì cũng đúng thế thật.

Thực sự thì tôi đang buồn ngủ đến díp cả mắt, liền bò lên giường, vốn Lí Thừa Ngân phải nhường cho tôi nửa cái chăn, nhưng tôi sợ đụng phải vết thương trên người hắn, thế là với tay mò lấy chăn ở chân giường đắp tạm. Sau đó cứ thế ngủ ngon lành.

Lúc lâu sau Vĩnh Nương khẽ tiếng gọi tôi dậy, tôi nhẹ nhàng choàng áo lên, Vĩnh Nương thì thầm bẩm với tôi chuyện ý chỉ phế truất Hoàng hậu cuối cùng đã được chiếu cho toàn dân trong thiên hạ hay, bên cạnh đó còn nghe nói Thái hoàng Thái hậu đã ra mặt dẹp yên bồn bế, hậu cung hiện nay vẫn rất bình ổn.

Kèm theo thánh chỉ phế bỏ ngôi vị Hoàng hậu, nội đình còn có ý chỉ riêng, ấy là phục hồi lại thân phân Lương đệ cho Triệu Sắt Sắt, với lí do nàng ta bị vu oan.

Tôi ngao ngán liếc nhìn Lí Thừa Ngân vẫn say sưa trên giường. Vết thương kia hiểm ác, mấy ngày nay sắc mặt hắn chỉ một màu tái nhợt thiếu sức sống, người cũng hao mòn đi trông thấy, thậm chí quầng mắt xuất hiện một vầng xanh xám.

Tôi bảo Vĩnh Nương: “Phái người đi gọi Triệu lượng đệ đến chăm sóc Thái tử điện hạ.” Nơi này vốn chả thuộc về tôi, tôi trơ lỳ nơi đây đã mấy ngày nay rồi.

Không đợi Vĩnh Nương tấu thêm, tôi đã bước khỏi điện, sai người chuẩn bị xe.

Tôi về tẩm điện của mình, mắt ráo hoảnh, cảm giác buồn ngủ trốn đi đâu không biết. Bụng bảo chắc đã ngủ đủ rồi, tôi tự nhìn mình trong gương, nếu như tôi xinh đẹp hơn 1 tẹo, liệu Lí Thừa Ngân có thích tôi không nhỉ?

Ban đầu Lí Thừa Ngân có thích hay không thích, tôi cũng chẳng bận tâm, thế nhưng trải qua đại nạn này, tôi mới chợt nhận ra, kì thực tôi rất hay để bụng. Giờ hắn tỉnh rồi, tôi lại mong ngóng hắn sẽ quý mến mình. Cái lúc hắn thoi thóp sắp chết ấy, tôi mới hiểu thì ra mình thích hắn nhiều lắm.

Thế mà, trong lòng hắn chỉ có Triệu lương đệ thôi.

Xưa nay hiện tượng bâng khuâng dường này tôi nào có biết.

Ăn chẳng buồn ăn, ngủ chẳng muốn ngủ, ngày nào cũng bần thần một mình.

Triệu lương đệ đã về đại viện nơi nàng ta hằng sống trước kia, Thái hoàng thái hậu bù đắp khá hậu cho sự tủi thân nàng ấy từng chịu đựng, chẳng những ban thưởng nhiều vàng bạc châu báu, mà phụ thân nàng ta mới đó cũng được thăng quan, mấy kẻ nịnh bợ nàng ta mỗi lúc một nhiều. Đằng viện bên ấy ngày nào cũng náo nhiệt, thỉnh thoảng đi qua còn vọng ra tiếng cười nói, tiếng đàn sáo, tiếng hát ca.

Vết thương của Lí Thừa Ngân có lẽ đã tạm ổn rồi, tuy rằng tôi chưa gặp hắn, nhưng mà có lần tôi ngẫu nhiên nghe thấy tiếng hắn cười.

Cười vui vẻ như thế, chắc mẩm đã khỏe hẳn rồi đấy.

Ngày Đại Tuyết năm ấy xảy ra hai chuyện lớn. Một là trong cung truyền chỉ, Hoàng thượng tứ hôn công chúa Lạc Hi cho Bùi Chiếu; cái thứ hai chính là việc Tự Nương được đưa về Đông Cung.

Gia thế của Bùi Chiếu rất lớn, mẫu thân hắn là trưởng công chúa BìnhNam, Vĩnh Nương kể cho tôi nghe: “Thân phận phò mã của Bùi tướng quân từ nhỏ đã được định trước rồi.” Nghe đâu Trung Nguyên rất chú trọng chuyện này, vậy ra đã thân nay càng thêm thân.

Tôi chợt nhớ về giấc mơ thường chực nọ, chỉ thấy có chiều thất vọng. Sau này Bùi tướng quân làm phò mã rồi, nói không chừng còn được thăng quan, nếu mà hắn không làm Kim ngô tướng quân ở Đông Cung nữa, có lẽ về sau khó có dịp gặp gỡ.

Thoạt đầu thì vắng bóng Lí Thừa Ngân, bây giờ, đến cả Bùi Chiếu cũng ít có cơ hội được gặp.

Vĩnh Nương thu xếp cho Tự Nương ở tòa viện phía Tây, bà ấy nói nơi đó yên tĩnh, sức khỏe Tự Nương không tốt, cần nơi nghỉ ngơi tĩnh dưỡng.

Tôi cũng ngẫm ra vì Lí Thừa Ngân không thích nàng ta, thế nên Vĩnh Nương mới chọn cho nàng ta nơi cách chính điện rõ xa. Vĩnh Nương nói với tôi: “Triệu lương đệ sắc sảo tỏ rõ, Thái tử phi nên đề phòng, tránh va chạm.” Vĩnh Nương nói gì tôi chẳng hiểu lắm, nhưng tôi hiểu đại ý bà ấy bảo tôi cứ lánh Triệu lương đệ đi vậy.

Đằng nào thì ở trong Đông Cung này, tôi cũng chẳng hồ hởi gì cho cam, may mà sức khỏe A Độ cũng có phần khởi sắc, 2 người chúng tôi chọn dịp lẻn ra ngoài chơi.

Hơn tháng trời không ra ngoài, dẫu trời vừa đổ tuyết lạnh cóng, nhưng vì sắp Tết đến nơi rồi, ngoài đường trở nên náo nhiệt vô cùng.

Con phố sầm uất ngập giữa biển người, phủ kín nơi nơi là những sạp nhỏ, quán nhỏ, nào thì bán cây tuyết liễu, nào thì bán cờ xuân, bán cả đồ ăn vặt, bán tranh tết…..còn có cả ca hát tạp kỹ, diễn múa rối, đốt pháo, nhảy dây…..người đông không ních nổi. Vốn ra thì tôi thích nhất chốn đông vui, từ xưa đã thích dắt A Độ hòa mình vào dòng người, ngắm nghía chỗ này một tí, xem xét chỗ kia một tẹo.

Thế mà ngày hôm nay chẳng hiểu tại sao, tôi không tài nào phấn chấn lên được. Lượn lờ một lúc, đã kéo A Độ lại quán chỗ Mễ La uống rượu.

Đằng tửu quán cũng tấp nập người ra người vào, từ tít đằng xa đã nghe rõ tiếng Mễ La vừa thanh vừa giòn dường như là tiếng chuông ngân đang cười cười nói nói.

Bước vào mái lều tre, tôi nhận ra tỷ ấy đang tiếp chuyện khách, mà gã khách ấy tôi cũng quen, là Bùi Chiếu đây mà.

Có biết đâu sẽ gặp Bùi Chiếu ở đây, tôi không tránh khỏi nhìn hắn sửng sốt, mà xem ra hắn gặp tôi cũng khá bất ngờ, thế nên cũng có phần giật mình.

Tôi thấy Bùi Chiếu mặc thường phục, tác phong nhàn nhã, liền chắp tay chào hỏi: “Chào Bùi công tử.” Hắn phản ửng cũng mau lẹ, lập tức đáp lời: “Lương công tử ghé quán.” Quán chật ních người, chỉ có bàn cạnh Bùi Chiếu là còn trống, tôi thói phóng khoáng không quen bày trò khách sáo, liền gọi A Độ ngồi xuống trước đã, rồi thì gọi 2 hũ rượu.

Có câu gì nhỉ, à, mượn rượu giải sầu.

Dẫu tôi không có sầu cần giải, nhưng trong bụng thấy ngán ngẩm quá chừng, nốc cạn mấy bát rượu xong, tinh thần mới sống dậy đôi phần lạc quan.

Tôi cầm đũa gõ bát, khẽ ngâm nga một làn điệu dân ca của người Tây Lương chúng tôi: “Có con cáo nhỏ ngồi trên cồn cát, ngồi trên cồn cát, ngắm nhìn ánh trăng. Ô thì ra không phải nó đang ngắm trăng, mà đang đợi cô nương chăn cừu trở về….. Có con cáo nhỏ ngồi trên cồn cát, ngồi trên cồn cát, sưởi nắng…..Ô…..thì ra không phải nó đang sưởi nắng, mà đang đợi cô nương cưỡi ngựa đi qua…..” Đôi ba người trong quán vỗ tay lộp bộp, vậy mà hứng thú trong lòng cứ chống chếnh vợi dần, không nén được tiếng thở dài, lại tu cạn 1 bát rượu, bắt đầu chuyển sang nhắm món thịt dê thơm phức. A Độ níu góc áo tôi, tôi biết nàng ấy khuyên tôi uống ít rượu thôi, thế nhưng tôi vẫn giả trò tảng lờ, lúc tôi vùi đầu thưởng thức thịt dê, chợt vang lên âm thanh dìu dặt, là tiếng khèn tất lật. Tôi ngước đầu trông lên, thảng thốt nhìn Bùi Chiếu đang ngồi đầu bàn phía bên kia.

Chẳng hiểu cớ gì A Độ lại đưa cây khèn cho hắn, hắn thổi xuất thần, và âm thanh véo von ấy cứ tuôn không ngừng.

Tôi chống cằm lặng nghe tiếng khèn.

Hắn thổi tiếp bài ban nãy tôi hát dang dở, hẳn là hắn chưa từng nghe bài hát ấy, thế nên tiếng khèn trúc trắc dè dặt, tuy âm luật không sai, nhưng cứ ngắc ngứ từng hồi, thổi một chặp mới bắt đầu vào guồng nhịp nhàng trôi chảy. Làn điệu dân ca này vốn có tiết tấu vui tươi rộn ràng, thế mà chẳng hiểu tại vì sao, lần nào tôi nghe cũng thấy thắt lòng.

Bùi Chiếu thổi một điệu dài rồi mới đặt cây khèn xuống.

Tôi uống tiếp một bát rượu, hỏi hắn: “Ngươi giúp ta một việc được không?” Bùi Chiếu vẫn vẽ thói khách khí với tôi: “Xin công tử cứ sai bảo.”

“Ta chưa từng được tới lầu cổng thành Chu Tước ngắm cảnh, ngươi có thể lén dẫn ta đến đó chơi không?”

Nom sắc mặt Bùi Chiếu thoáng vẻ lúng túng, tôi lẩm bẩm: “Thôi, coi như ta chưa nói gì.”

Chẳng ngờ Bùi Chiếu lại thưa: “Lén đi thì không hay lắm, nhưng vẫn có cách, song có điều công tử phải giả làm tùy tùng của tại hạ, như thế chỉ e công tử phải khổ một phen thôi.”

Tôi lập tức phấn chấn hẳn lên, vỗ tay cười: “Cái này thì có hề gì.”

Tôi cùng A Độ đóng giả làm tùy tùng theo hầu Bùi Chiếu, nghênh ngang theo hắn lên cổng Chu Tước.

Cổng Chu Tước là nơi có địa thế cao nhất trong Thượng Kinh, so với gác chuông ở hồ Thái Dịch chốn Hoàng cung xem ra cao hơn nhiều. Vốn do nơi đây chính là cổng chốt phíaNamcủa cửu thành Thượng Kinh thế nên canh phòng hết sức nghiêm ngặt, ba bước một chòi canh, năm bước một đồn gác. Song Bùi Chiếu vẫn đưa tôi lên cổng lầu thuận lợi suôn sẻ.

Đứng trên cổng lầu, đón gió phần phật táp vào mặt, gió tựa những nhát dao rát buốt cứa lên da thịt. Thế nhưng trông xuống nhà nhà treo đèn kết hoa trong Cửu Thành, phong cảnh ấy hùng vĩ vô cùng. Phố thị thẳng tắp liền kề, như một bàn cờ được đặt ngay trước mắt, nơi những lầu quán rải rác khắp kinh thành, hệt một bồn đá thạch anh tích tụ hàng ngàn đốm sáng. Phóng tầm mắt nhìn bao quát, thậm chí mái ngói lưu ly nơi hoàng cung xa xăm mang màu đại dương, màu xanh thâm trầm ấy cứ miên man lao thẳng về phía chân trời.

Bùi Chiếu chỉ cho tôi xem: “Bên đó là Đông Cung.”

Có ngắm được Đông Cung hay không, tôi nào có bận tâm, tôi kiễng chân, chỉ muốn nhìn về nơi xa hơn cả.

Đứng ở chỗ cao là thế, cũng chẳng hề trông thấy Tây Lương.

Tôi tiu nghỉu nhoài người trên tường trổ, cất giọng ủ ê hỏi Bùi Chiếu: “Ngươi có nhớ nhà không?”

Phải một lúc, hắn mới thưa: “Mạc tướng sinh ra và lớn lên ngay tại kinh thành, chưa xa rời Thượng Kinh được mấy lần, thế nên không có cảm giác nhớ nhà.”

Tôi ngẫm thấy mình thật chẳng ra sao, đành ngượng ngùng ngoái lại nhìn hắn. Trên cổng thành nổi gió to, tay áo choàng cuốn phất phơ theo chiều gió, hắn đứng cách tôi một khoảng xa đến nỗi nơi tường thành đèn đuốc ảm đạm tôi không tài nào nhìn ra khuôn mặt hắn đang mang thần sắc gì. Đoạn bảo: “Thổi một điệu khèn cho ta nghe đi.”

A Độ đưa khèn tất lật cho Bùi Chiếu, hắn chậm rãi thổi, vẫn là làn dân ca tôi hát mới rồi.

Tôi ngồi bên bờ tưởng trổ, lầm bầm ngân theo tiếng khèn: ““Có con cáo nhỏ ngồi trên cồn cát, ngồi trên cồn cát, ngắm nhìn ánh trăng. …..Ô…..thì ra không phải nó đang ngắm trăng, mà đang đợi cô nương chăn cừu trở về….. Có con cáo nhỏ ngồi trên cồn cát, ngồi trên cồn cát, sưởi nắng…..Ô….. thì ra không phải nó đang sưởi nắng, mà đang đợi cô nương cưỡi ngựa đi qua…..”

Tôi biết, con cáo ấy chẳng đang đợi ai cả, mà rằng nó đang rất nhớ nhà.

Bẵng đi một lúc chẳng rõ là bao lâu, tôi mới thôi lầm thầm, thế nhưng tiếng khèn cứ văng vẳng quấn quít. Nhịp điệu thân thương ấy khiến tôi thấy sao mà yên lòng, sao mà nhẹ nhõm. Dẫu cho chốn tường thành chót vót lạnh lẽo, đáy lòng vẫn đọng lại một hơi ấm nồng, nơi ấy có tiếng gọi của Tây Lương, hơi thở của Tây Lương vẫn trọn vẹn ngay tại nơi ấy, ngay giữa lòng Thượng Kinh phồn hoa rộng lớn này, nó là thứ duy nhất tôi thân quen, tôi thấu hiểu.

Mây ửng sắc vàng sà xuống ngang đầu, sao trăng chẳng thấy đâu, chỉ có gió quất trên da thịt, đau mà rát. Giấc ngủ chập chờn quanh mình, tôi ngáp 1 cái rồi dựa vào A Độ.

Tiếng khèn nỉ non cất lên, dường như là làn sương mùa đông, dập dềnh trong cả những cơn mơ đưa tôi vào giấc ngủ.

Ngay lúc ấy, trên mặt chợt buốt, tôi ngước đầu trông lên.

Thì ra trởi đổ cơn mưa tuyết, tuyết từ trời cao thủng thỉnh rơi xuống, gió không hiểu tự lúc nào đã ngừng nghỉ, chỉ có tuyết rả rích chi chít đáp hạ trong câm lặng. Một cụm hoa tuyết óng ánh bung cánh xõa nở giữa bốn bề đất trời, trời cao kia như bị thủng 1 cái lỗ, tuyết từ cái lỗ trên trời rỉ xuống liên miên không ngớt. Nơi này một mảng, nơi kia một đụn, rũ mình phất phơ theo chiều gió tung bay.

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 11 Mar 2015 02:57 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47724
Thanks: 321
Thanked: 29450 times
Chương 8


Trong thành lưa thưa đã có nhà dân lên đèn, tuyết dầy như tấm mành rèm trắng xóa chụp lấy đất trời.

Cuối cùng, Bùi Chiếu thu cây khèn lại, thì ra hắn thổi liên tục bấy lâu nay. Ngưng một lúc, hắn bắt đầu húng hắng ho từng cơn, chắc đã hít phải khá nhiều gió lạnh, hắn cũng ngốc thật, tôi không bảo ngừng là cứ thế thổi suốt, cũng chẳng sợ bị viêm phế quản. Bùi Chiếu vẫn đang gồng mình dằn cơn ho, mở lời với tôi: “Tuyết rơi rồi, mạc tướng hộ tống Thái tử phi về cung.”

Tôi bắt gặp đốm tuyết như nhung đậu lại trên lông mi hắn, chớp mắt đã tan chảy.

Tôi phóng khoáng bảo: “Ta về làm gì.”

“Bẩm Thái tử phi…”

“Đừng có gọi ta là Thái tử phi.”

Bùi Chiếu chẳng hề do dự, lời thoát khỏi miệng vẫn kiểu cách cung kính: “Vâng, thưa nương nương.”

Trong lòng tôi chỉ một nỗi phiền muộn, hỏi hắn: “Ngươi thích cô công chúa kia à?”

Bùi Chiếu sững sờ, nhưng không đáp lời.

Tôi vỗ vai hắn an ủi: “Ta chắc mẩm người không thích lắm! Chẳng ngờ ngươi cũng bị ép lấy một người mình không yêu. Ôi chao, thật tiếc thay cho đàn ông Trung Nguyên các ngươi. Chẳng qua ta cũng là loại chó chê mèo lắm lông thôi. Dù cho Lí Thừa Ngân mang thân phận thái tử, song không thể sắc lập ngôi vị Thái tử phi cho người mình yêu, còn ngươi, hóa ra ngươi và hắn đều chung chí chung hướng cả….”

Vốn thành ngữ ngổn ngang của tôi chỉ dùng ở mức tầm tầm, chẳng vậy mà sắc mặt Bùi Chiếu trở nên lúng túng, sau cùng chỉ đáp lại một câu nhạt nhẽo: “Vâng ạ.”

Tôi khẳng khái khuyên: “Đừng buồn nữa. Ta mời ngươi một chầu hoa tửu nhé!”( * hoa tửu-uống rượu có kỹ nữ hầu )

Hình như Bùi Chiếu lại được phen mắc nghẹn, hắn húng hắng ho một chập. Tôi giở giọng điệu sành sỏi bảo hắn: “Ta có bạn chí cốt ở Minh Ngọc Phường nhé! Xinh đẹp lắm đấy! Hôm nay hời ngươi rồi!”

“Bẩm Thái tử phi….”

“Đừng có gọi ta là Thái tử phi nữa!” Tôi háo hức lôi kéo hắn, “Đi nào, đi nào! Ta dắt ngươi đi uống hoa tửu!”

Hiển nhiên Bùi Chiếu chẳng ngờ tôi lại là khách quen ở những nơi đầy rẫy thói trăng hoa ấy, khi đã bước qua bậu cửa của Minh Ngọc phường, trên mặt hắn bãy sẵn vẻ kinh hãi.

Mấu chốt ở chỗ Vương đại nương vừa nhìn thấy tôi đã vẽ ra nụ cười nghênh đón hớn hở hệt như nhìn thấy bảo vật sống, bà ấy níu chặt tay áo tôi: “Ôi trời đất ơi, Lương công tử đến rồi này! Mấy chị em lầu trên lầu dưới kia ơi, Lương công tử đến rồi đấy!”

Mặc dù Vương đại nương người đẫy đà phốp pháp, nhưng giọng cứ gọi là vừa sắc vừa thanh, vừa cao lại vừa vang,chỉ mới hô một tiếng, cả phường Ngọc Minh chớp mắt đã rầm rộ cả lên, vô số nào yến nào oanh nào sắc xanh nào sắc đỏ, trên lầu có, dưới lầu cũng có, mấy cô gái lũ lượt nhào đến: “Lương công tử đến rồi! Lương công tử ơi, sao lâu thế mà không thấy chàng đến? Lương công tử quên chúng em rồi chăng….”

Tôi bị các cô ấy bấu víu lôi xềnh xệch vào trong, bụng dạ hả hê đắc ý: “Đâu có đâu có…hôm nay tiện đường….”

“Hừ! Hôm nọ Nguyệt Nương còn bảo, Lương công tử ấy à, chàng mà không đến mau, chúng em sẽ đào sạch mười năm hũ rượu chàng cất ở đây lên, uống cho bằng hết thì thôi.”

“Đúng rồi, dưới gốc cây mai vẫn còn chôn một vò tuyết, Nguyệt Nương vẫn kiên quyết bảo phải giữ lại pha trà cho chàng thưởng thức!”

“Hôm nay vừa vặn tuyết rơi, chúng ta lấy chỗ nước tuyết ấy nấu rượu nhé!”

“Hay quá, hay quá!”

Mấy nàng con gái nhao nhao làm tôi đau vỡ cả đầu, tôi hỏi: “Nguyệt Nương đâu? Sao không thấy tỷ ấy?”

“Nguyệt Nương ấy à, tỷ ấy đổ bệnh rồi!”

Tôi quá đỗi ngạc nhiên: “Bệnh á?”

“Vâng ạ! Ngã bệnh tương tư rồi!”

“Bệnh tương tư à?”

“Há lại không. Hôm trước ấy, có vị khách quý đến đây uống chén trà, nghe đoạn hát, rồi đi luôn, chẳng ngờ Nguyệt Nương lại nhớ thương người ta.”

“Kẻ nào lại có thể khiến Nguyệt Nương thầm mong trộm nhớ thế?”

“Nom có vẻ thư sinh con nhà quyền quý, tướng mạo tuấn tú, lời lẽ thanh tao, phong độ cũng hiên ngang….”

Nghe thôi đã biết chuyện chẳng đùa được, biết bao lần lê la quán trà nghe thuyết thư kể chuyện đến nhàm tai, nào là chỉ có tiểu thư với công tử mới đích ước nơi hậu hoa viên, chứ nào đã có công tử và nữ nhi đời ca kỹ đâu. Huống hồ Nguyệt Nương còn là kỹ nữ tinh thông nhạc họa, tài danh bậc nhất chốn phong lưu này, đám công tử quỳ dưới váy Nguyệt Nương nếu không 1 ngàn thì cũng phải cỡ 8 trăm, lý nào lại đổ bệnh tương tử được?

Tôi với Nguyệt Nương vốn kết nghĩa chị em, tôi cũng lập tức lên lầu đến phòng tỷ ấy thăm hỏi. Quả nhiên tỷ ấy chưa ngủ, chỉ đang chống cằm uể oải dựa người bên lồng xông hương, mắt đăm đăm nơi đèn cầy đỏ, không hiểu đang thả hồn về đâu.

“Thập Ngũ!” Tôi gọi tên mụ của tỷ ấy.

Nguyệt Nương ngước nhìn tôi, vẫn dáng mặt ủ mày chau ấy: “Muội đến rồi à?”

Tôi ướm hỏi: “Tỷ bị bệnh tương tư thật đấy à?”

“Muội ơi, muội không biết đâu, chàng ta quả thực giống như thần tiên ấy!”

“Muội đã bảo tỷ rồi cơ mà, đàn ông đẹp trai có mài ra ăn được đâu!”

“Người ta không những tướng mạo tuấn tú, mà còn nho nhã thanh tao….. đáng quý ở chỗ chàng ấy đối với tỷ chẳng hề tỏ ý khinh bạc….” Nguyệt Nương vẫn si mê chắp tay trước ngực, “Xin ông trời phù hộ, ngày nào đó đôi ta được tương ngộ dẫu chỉ 1 lần….”

“Không phải kẻ đó cũng là loại gái giả trai đấy chứ?” Tôi không nén được ngắt lời, “Thoạt đầu lúc tỷ phát hiện muội là con gái, chẳng phải tỷ từng nói, muội không hề có thái độ cợt nhả, thế nên tỷ vừa nhìn đã biết tỏng muội là con gái….”

Nguyệt Nương chẳng vì thế mà dao động: “Sao chàng ấy có thể là nữ cải trang được, trông khí chất chàng ấy, đường hoàng là một đấng trượng phu mà….chao ôi…..”

Tôi rỉ tai nói nhỏ với tỷ ấy: “Hôm nay muội lôi Bùi Chiếu đến đấy! Không phải tỷ vẫn luôn một lòng muốn báo thù sao? Hay phen này bày mỹ nhân kế gạt hắn vào tròng, để hắn giúp tỷ báo thù đi? Cha hắn là đại tướng quân thống lĩnh kỵ binh, hắn lại là kim ngô tướng quân, nghe đâu Bùi gia rất có quyền thế!”

Nguyệt Nương ngán ngẩm lắc đầu: “Chẳng tác dụng gì đâu. Quyền lực trong tay Cao Vu Minh có sức áp đảo trong và ngoài triều, giữ chức vị tể tướng đã hơn mười năm nay, môn sinh của gã rải rác mà vây cánh cũng nhiều, kể cả có là Bùi gia, cũng khó lòng lật đổ được hắn. Hơn nữa, tỷ nghe nói, Cao quý phí chẳng mấy mà sẽ trở thành Hoàng hậu.”

“Cao quý phi sắp làm Hoàng hậu á?”

“Ừ, trên phố người ta đồn rằng, bệ hạ phế bỏ Trương hoàng hậu, là muốn đưa Cao quý phi lên mà.”

Tôi không thể không thừa nhận, tôi đảm đương cái chức vị Thái tử phi này thật chẳng ra làm sao, ngay cả ai là người được ưu ái cho ngôi vị Hoàng hậu tôi cũng không nắm rõ. Mà xưa nay tôi chỉ gặp Cao quý phi vỏn vẹn có 2 lần, đều là mấy lần thỉnh an Hoàng hậu thì ngẫu nhiên gặp, nửa ngày trời tôi cứ cố lục lọi trí nhớ, cũng chỉ nhớ mang máng, chẳng thể nào nhớ nổi bà ta hình dáng thế nào.

Tôi bảo: “Nếu tỷ gặp được Hoàng thượng thì tốt quá, có thể bày tỏ oan khuất của mình với người.”

Gia đình Nguyệt Nương xưa kia vốn cũng làm quan, sau đó bị Cao Vu Minh hãm hại, cả nhà bị tịch thu tài sản. Khi ấy tỷ mới chỉ tầm 6 7 tuổi, tuy may mắn thoát thân, song lại bị bán vào chốn lầu xanh làm nghề ca kỹ. Mấy năm này trong lòng lúc nào cũng tâm niệm phải báo thù, lần đầu tiên nghe tỷ ấy tâm sự chuyện cảnh đời mình mà cứ khóc mãi không thôi. Thế rồi chúng tôi có chung 1 nỗi đồng cảm, tiếc thay tôi lại chẳng giúp được gì.

Nguyệt Nương buông tiếng thở dài xa xôi: “Dẫu có cơ hội yết kiến Hoàng thượng, e cũng chẳng tác dụng gì….ôi….Mà tỷ cũng chẳng muốn gặp Hoàng thượng….trong lòng tỷ…..bây giờ….chỉ….chỉ không biết lúc nào mới có dịp gặp lại người ấy….”

Nguyệt Nương trông vậy mà đổ bệnh tương tư nặng, bây giờ, ngay cả thù nhà lớn là thế cũng quên ráo, lại chỉ đi nhớ nhung gã công tử nọ.

Tôi xuống nhà kéo Bùi Chiếu lên lầu, trong Minh Ngọc phường đâu đâu cũng thắp đèn lồng, ánh sáng ấm áp lan tỏa mênh mông tạo cảm giác dễ chịu. Nguyệt Nương không hổ là hoa khôi đầu bảng của phường Minh Ngọc, vừa nhấc rèm đã khiến lắm kẻ nức lòng. Một lúc có đến mấy cô gái ra nghênh tiếp, một mực lôi kéo chúng tôi vào trong, Bùi Chiếu trông vẻ không quen với nơi này, tôi liền xua hết mấy người đẹp ấy xuống nhà, thế rồi chỉ còn lại Nguyệt Nương tiếp mấy người bọn tôi uống rượu.

Vui vẻ cho đến tận đêm thâu, bụng dạ đói meo, đầu bếp của phường Minh Ngọc nổi tiếng trong nghề, bằng không tôi đã chẳng thường xuyên ghé đây. Thoạt đầu vì tâm đầu ý hợp với Nguyệt Nương nên đến, cái sau thì là bởi chỗ các nàng ấy nấu được nhiều món ngon.

Tôi ăn uống một trận no nê, những khó chịu chán chường nơi cổng thành hứng gió hứng tuyết, tất thảy đều nuốt chửng xuống bụng. Nguyệt Nương ôm cây đàn tỳ bà, khẽ gảy những nốt nhạc uyển chuyển, đoạn ngập ngừng hát:

“Cả đời chưa biết tương tư, nên vừa tương tư, liền bệnh tương tư.Thân tựa mây trôi, lòng như bông sợi, hơi thở yếu nhược tựa tơ vương”(*bài thơ Xuân tình của Từ Tái Tư-bản dịch: chị Lãnh Vân:-*)

Giọng hát ấy man mác vấn vương dường như là trăm mối tơ vò, quả nhiên bài hát mang âm điệu du dương của một cõi lòng bị tình yêu khuấy động. Tôi liếc sang Bùi Chiếu: “Sao ngươi không ăn đi?”

“Công tử xin cứ tự nhiên, tại hạ không đói.”

Tôi phát hiện ra hắn ít nhiều đã có tiến bộ hơn trước, tối thiểu đã thôi cái kiểu mở miệng ra là mạc tướng thế này mạc tướng thế nọ. Tôi nhấc đũa trỏ cho hắn thấy: “Món cá xắt mỏng ở đây ngon nhất nhì Thượng Kinh, được tẩm ướp gia vị từ Ba Tư, không hề tanh chút nào, ngươi nếm thử xem.”

Tôi nhiệt liệt giới thiệu món cá, ấy vậy mà hắn chẳng hề động đũa.

Trên đường về Cung, Bùi Chiếu đột nhiên hỏi tôi: “Người con gái ban nãy, liệu có phải thân quyến nhà họ Trần không ạ?”

Tôi ngớ ra chưa kịp hiểu, hắn từ tốn lập lại câu hỏi: “Nguyệt Nương gảy đàn tỳ bà vừa mới rồi, trước đây mang họ Trần phải không ạ?”

Tôi gật gù, tiện thể bộc bạch luôn chuyện nhà Nguyệt Nương, miêu tả tỷ ấy đáng thương thế nào, đáng tiếc ra sao.

Từ đằng xa đã là dãy tường của Đông Cung, Bùi Chiếu ngưng bước, chợt nói với tôi: “Bẩm Thái tử phi, Mạc tướng có lời này, không biết có nên nói hay không.”

Tôi ghét nhất cái kiểu người vòng vo, liền bảo: “Có gì ngươi cứ nói đi.”

Hắn ngập ngừng 1 lúc mới thưa: “Trời sinh Thái tử phi bản tính hiền lương, Đông Cung lại là nơi đầy rẫy thị phi. Điện hạ thân là đương kim Thái tử, lập trường của người ắt rơi vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nan. Mạc tướng cho rằng, Thái tử phi tốt nhất không nên giao thiệp với những người như Nguyệt Nương….”

Xưa nay, tôi chưa bao giờ nghĩ Bùi Chiếu lại có thể khiến người ta phát ghét đến thế, tôi cười khẩy mà rằng: “Ta biết hoàng thân quốc thích các người đều xem thường những nữ tử như Nguyệt Nương, nhưng bảo ta đừng nên qua lại với bạn bè ta nữa, chuyện đó e là không thể! Ta không giống loại nịnh hót bợ đít như các người, thấy kẻ khác không quyền không thế thì không thèm kết bạn. Ngươi nói không sai, Nguyệt Nương chỉ là loại nữ nhi chốn phong trần, tối nay quả thật đã làm vấy bẩn Bùi tướng quân rồi! Nhưng Bùi tướng quân yên tâm, sau này ta sẽ không đưa ngươi đến những chỗ như thế nữa, ngươi cứ thanh thản mà nhậm chức phò mã của ngươi đi!”

Khi đó có lẽ tôi đã nói với Bùi Chiếu những lời chua ngoa xưa nay chưa từng thốt ra, thế nên vừa dứt lời, một lúc lâu sau hắn không hề đáp lại. Chỉ thấy tiếng vó ngựa cào trên tuyết, chỗ ấy là nơi đường lớn phố thị, đá xanh 2 trượng vuông vức trải dọc. Tuyết vẫn rơi tầm tã, đọng lại trên mặt đất là một lớp mỏng manh, ngựa bước đi không vững, chỉ nhích từng bước thật chậm.

Về đến chân tường phía nam của Đông Cung rồi mà tôi vẫn chưa thèm liếc đến Bùi Chiếu.

Tôi không hề hay biết sự tình này sau đó còn nhiều biến hóa khôn lường. Cũng bởi chẳng mấy mà sắp đến Tết, trong cung có biết bao là lễ lạt lớn, năm nay không có Hoàng hậu nắm quyền, rất nhiều việc đổ ập xuống đầu tôi, phải triều kiến các mệnh phụ phu nhân cả đôi bên nội ngoại, phải thết yến…..tuy rằng hậu cung bây giờ tạm thời do Cao quý phi làm chủ, thế nhưng dẫu sao bà ấy cũng chỉ là quý phi.


Vĩnh Nương bảo rằng, phần lớn người ta đều ngóng đến đại lễ Nguyên Thần rồi phỏng đoán xem liệu Hoàng thượng có để Cao quý phi phụ trách hay không.

“Chẳng biết Cao quý phi có được phong làm hoàng hậu không nhỉ?”

“Nô tì không dám nói xằng.” Vĩnh Nương kính cẩn thưa. Tôi biết bà ấy không tùy tiện phát biểu ý kiến về những chuyện này đâu, bà ấy cũng nói: “Thái tử phi cũng tránh bàn luận về việc này, đây không phải chuyện phận làm dâu có thể can dự vào.”

Tôi thấy dạo gần đây chuyện phiền não của tôi chồng chất cả đống, so đo với chuyện ai sẽ làm Hoàng hậu còn phức tạp hơn gấp bội. Ví dụ như chuyện Triệu lương đệ mới đây cắt xén chi phí của Tự bảo lâm chẳng hạn, Tự bảo lâm tuy hiền lành, nhưng cung nhân hầu hạ dưới chướng chẳng kiêng nể ai, tranh cãi om sòm cả lên, ấy thế kết quả lại bị đám cung nữ của Triệu lương đệ bày trò, nói bọn họ lấy trộm đồ của nhà kho, muốn tống cổ bọn họ khỏi Đông Cung. Sau này Tự bảo lâm đến than khóc với tôi, tôi cũng hết cách, bảo tôi đi mò sổ sách, tra xét lại phần thu chi, nhọc lòng đứng ra làm chủ mấy chuyện này, thà lấy mạng tôi đi còn hơn, tôi đành từ tốn vỗ về Tự bảo lâm, thế nhưng 2 kẻ cung nhân nọ vẫn bị đuổi khỏi Đông Cung, tôi phải sai Vĩnh Nương chọn 2 cung nữ khác đến hầu Tự bảo lâm.

Ngoài mấy chuyện vụn vặt trong Đông Cung này ra, việc quan trọng hơn cả vẫn là chuyện Thái hoàng thái hậu đột nhiên nhiễm thương hàn, đợt ốm này không nặng, nhưng toàn cung trên dưới được phen bồn chồn bất an, dẫu sao Thái hoàng thái hậu cũng đã luống 70 tuổi. Trước kia tôi không cần sớm chiều đến thỉnh an người, bây giờ quy định đổi khác, ngày ngày đều phải tới cung Thọ Ninh phụng dưỡng thuốc thang.

Lại thêm chuyện Lí Thừa Ngân cưỡi ngựa đánh bóng bất cẩn vấp trẹo cổ chân chân, tuy đi lại không bất tiện là mấy, thế nhưng vết thương kia vừa lành chưa được bao lâu, giờ lại xảy ra sự tình này, Hoàng thượng nổi giận lôi đình, triệu hắn đến mắng cho 1 trận rõ to, rút cuộc sau khi trở về Đông Cung, Triệu lương đệ chẳng hiểu vì sao lại chọc giận gì hắn, có thế mà hắn giáng cho Triệu lương đệ 1 tát, đợt này thì họa ập xuống tới tấp, Triệu lương đệ tức tưởi khóc lóc om sòm không ngớt. Mấy kẻ bâu quanh nói hơn nói thiệt can mãi, Lí Thừa Ngân nguôi giận tức thì phủi tay bỏ đi luôn, bẵng mấy ngày cứ ở lì trong chính điện.

Vĩnh Nương liên hồi khuyên tôi đi thăm Lí Thừa Ngân, tôi thừa hiểu ý bà ấy nhưng vẫn giả điếc lờ đi.

Chẳng ngờ tôi không đến đằng hắn, thì hắn đã chạy lại đằng tôi.

Tối hôm đó có cơn mưa tuyết nho nhỏ, tiết trời giá lạnh, trong điện ủ lồng hương, hương đưa giấc ngủ. Tôi đã chóng nằm ấm chỗ, Lí Thừa Ngân bất thình lình lại tới.

Hắn chỉ dẫn theo nội quan, nếu không có A Độ tỉnh táo, nói không chừng hắn lên giường lúc nào tôi cũng chẳng hay. Lúc A Độ lay tôi dậy, cũng là lúc tôi đang ngon giấc, tôi ngáp dài, dụi mắt, tèm nhèm nhìn Lí Thừa Ngân, chỉ đỗi ngạc nhiên: “Chàng đến làm gì thế?”

“Đến ngủ!” Hắn giương cái mặt chẳng mấy thiện cảm, ngồi xuống nhấc chân, tay nội quan đã hộ hắn tháo giầy, lại hầu hắn cởi áo, hắn phất phất tay, gã nọ khoanh tay lui mất. A Độ lay tôi dậy xong, cũng chuồn đằng nào chẳng hay.

Tôi ngáp thêm cái nữa, nghĩ bụng cứ lo thân mình cái đã, thế rồi buông người ngủ say như chết, nếu không bị Lí Thừa Ngân giành chăn, có khi cũng chẳng tỉnh.

Tôi mơ màng nhường cho hẳn nửa phần chăn, hắn bám dính lấy, không hiểu tự lúc nào ai đã hộ hắn cởi quần áo, hắn mặc độc bộ lụa mỏng bên trong. Toàn thân nóng rực, ấm áp hết sức, cứ như là chậu than ấy. Nhất là lúc hắn giương cánh tay lên, vừa vặn kề đúng hõm gáy tôi, thế rồi ôm tôi dễ như bỡn, tiện tay kéo tuột tôi vào lòng hắn. Mặc dù nằm như thế ấm lắm, nhưng mà tôi cứ cảm giác khó chịu, thiu thiu một lúc lại càng không chịu được: “Đừng phả hơi sau gáy thiếp mà….”

Hắn không nói gì, tiếp tục công cuộc hôn lên gáy tôi, hệt như có con cún nhỏ đang cắn mình, cứ ngứa ngáy mà tê tê, không cầm được lòng đẩy hắn ra: ‘Đừng cắn nữa, cứ cắn nữa thiếp không ngủ được.” Hắn vẫn im re, chuyển sang cắn tai tôi, tôi sợ nhất là nhột vành tai, cười cười 1 lúc đã nhũn cả người, hắn chớp thời cơ vạch mở đai áo tôi, lúc ấy tôi tức thì tỉnh cả ngủ, “Chàng làm gì thế?”

Lí Thừa Ngân hung hăng gặm môi tôi, tôi chợt hiểu ra ý đồ của hắn, bất thình lình tung cho hắn 1 cú đạp: “Này!”

Quả đạp đấy khiến hắn suýt chút nữa thì ngã lộn cổ khỏi giường, mùng màn vắt ngang mặt hắn, một hồi lâu mới gỡ được đống lằng nhằng này, hắn đâm bực, trợn mắt với tôi: “Nàng bị làm sao đấy?”

“Chàng muốn….việc kia….việc kia….thì đi mà tìm Triệu lương đệ ấy!”

Tôi thèm vào mà làm thế thân cho Triệu lương đệ nhé, tuy tôi thích Lí Thừa Ngân thật đấy, nhưng không ưa nổi cái kiểu hành xử của hắn.

Lí Thừa Ngân chợt rộ lên cười: “Thì ra nàng ghen à.”

“Ai ghen?” Tôi trừng mắt, “Chàng bớt cái kiểu ‘tự mình làm tự mình chịu’ đi!”

Lí Thừa Ngân không kìm được, bắt đầu uốn nắn tôi: “Là ‘tự mình đa tình’!”(* 2 câu ấy đây, giống tự mình tự làm tự chịu, bụng làm dạ chịu ...tự mình đa tình, tưởng ai cũng mê mình, hoang tưởng)

Tôi nói thành ngữ lúc nào cũng sai, nhưng mà hắn vừa dứt lời, tôi lập tức hả hê hẳn lên: “Chàng biết tự mình đa tình là tốt rồi! Đi tìm Triệu lương đệ của chàng đi, hoặc Tự bảo lâm ấy, đằng nào thì chỗ người ta đang ngóng chàng lắm đấy!”

“Còn nàng? Nàng không mong ta đến à?”

“Thiếp có người mình thích rồi!” Trong lòng tôi chợt dấy lên vị chua xót, chẳng qua người tôi thích lại không thích tôi, thêm vào đấy, tôi còn đang già mồm chống chế trước mặt chàng ta đây, “Thiếp mong chàng đến làm gì, chàng thích tìm ai thì tìm họ đi, cứ cưới thêm 8-10 lương đệ hay bảo lâm gì gì đấy nữa vào, thiếp cũng chẳng thèm để bụng đâu.”

Sắc mặt Lí Thừa Ngân trong thoáng chốc đã trở nên tối sầm, trước đây nhiều lần tôi nhắc đến Triệu lương đệ trước mặt hắn, hắn cũng không tỏ vẻ khó coi như thế này. Qua một lúc lâu, hắn đột nhiên cưởi khảy 1 tiếng: “Đừng tưởng ta không biết gì nhé, không phải là Bùi Chiếu đấy chứ!”

Tôi cứng họng nhìn hắn chằm chằm.

“Đừng có quên thân phận của mình, nàng là gái đã có chồng. À, ta biết, đằng nào thì Tây Lương các nàng quen thói bại hoại rồi, nào có sợ bẽ mặt, suốt ngày chuồn khỏi cung, rong chơi bên ngoài với Bùi Chiếu, mảy may thể diện trên người cũng cạn ráo!”

Tôi không ngờ hắn lại biết chuyện tôi xuất cung, càng khó lường hơn ấy là hắn tường tận cả việc tôi đi uống rượu với Bùi Chiếu, tôi thẹn quá hóa giận: “Chính chàng cưới hết người này đến người nọ, thiếp ra ngoài chơi đấy, nhưng chẳng làm chuyện gì xấu cả, vả lại thiếp và Bùi tướng quân hoàn toàn trong sạch….”

Hắn phá lên cười: “Thế đấy, Bùi Chiếu có gan to bằng trời cũng chẳng dám có gì không trong sạch với nàng. Hơn nữa, hắn sắp lấy Lạc Hi rồi, công chúa thiên triều chúng ta ấy à, không giống loại nữ tử Tây lương các nàng, thật là….lông bông bẩm sinh!”

4 chữ sau cùng ấy khiến tôi tức điên lên, tôi nhảy dựng dậy vung tay tát hắn, nhưng mà hắn tránh rõ nhanh, thế nên cái tát chỉ sượt qua cằm. Tôi giận đến run người: “Ngươi suốt ngày cợt nhả với cả đống nữ nhân thì sao, ta xưa nay đã nói gì đâu, ta và Bùi Chiếu uống rượu vài lần với nhau đấy, ngươi dựa vào đâu mà dám lên mặt với ta? Con gái Tây Lương sao nào…Chẳng qua loại ngươi cũng chỉ ỷ vào thế mạnh người đông….bằng không năm đó phụ hoàng ngươi ép cha ta cầu thân, cha ta còn không nỡ gả con gái đến nơi xa xôi này đấy? Nếu không phải ngươi là loại chó cậy thế chủ, ta thèm vào mà lấy ngươi? Đàn ông Tây Lương ấy à, có ai không bằng được ngươi nào? Ngươi tưởng ta đây muốn lấy ngươi lắm đấy? Ngươi tưởng ta thích cái ngôi vị Thái tử phi lắm chắc? Người ta thích ấy à, tốt hơn ngươi 1 ngàn 1 vạn lần! Đến cọng tóc của người ta ngươi còn không bì nổi đâu….”

Lí Thừa Ngân tức lắm, hắn chẳng thèm mặc áo, nổi giận đùng đùng lao khỏi giường. Hẳn đi thẳng ra đến bậu cửa nội điện rồi mới ngoắt lại nói với tôi: “Nàng yên tâm! Sau này ta cũng chẳng đến đây nữa, nàng cứ từ từ thương nhớ cái gã tốt hơn ta 1 ngàn 1 vạn lần ấy đi!”

Chắc hắn phải bực lắm, thậm chỉ giầy còn vất cả lại, cũng không rõ chân trần như thế thì về kiểu gì nữa.

Tôi kéo chăn trùm kín đầu, bụng dạ cồn cào mãi không thôi. Tôi làm Lí Thừa Ngân giận dỗi bỏ đi, bởi vì tôi biết, hắn thích Triệu lương đệ cơ mà. Tôi cũng chẳng phải người rộng lượng, biết rõ trái tim kia không có bóng dáng mình, còn để hắn lợi dụng mình làm gì nữa. Thà rằng hắn cứ như trước kia, cứ thờ ơ lãnh đạm với tôi đi. Phận nữ nhi đáng thương thế đấy, thoạt đầu hắn chẳng qua cũng chỉ đẩy tôi 1 cái, đỡ hộ tôi nhát kiến của gã thích khách nọ, trái tim tôi đã nghiêng về hắn rồi, nếu như hắn cứ cái kiểu vuốt ve an ủi này, chỉ cần 1 tí 1 tí thôi, nói không chừng tôi cả đời này khó lòng rời bỏ được hắn. Đến lúc ấy cuộc sống tôi sẽ đáng thương xiết bao, ngày ngày mong ngóng hắn, hy vọng hắn bố thí cho mình 1 cái nhìn, thế rồi sẽ giống như đám con gái mà Vĩnh Nương vẫn từng kể, ngày qua ngày nào thì chờ, nào thì mong, nào thì ngóng, ngóng mãi, ngóng mãi…Tôi không nỡ để bản thân sa chân vào bước đường tội nghiệp kia…

Trời về khuya mà tôi cứ trằn trọc khó vào giấc, sáng ra vừa chợp được mắt, đã bị Vĩnh Nương gọi dậy, cuống quýt thay xiêm y chải đầu chỉnh tề để vào cung. Dạo gần đây tình hình sức khỏe của Thái hoàng thái hậu ngày càng khởi sắc, gặp tôi người còn mừng, ban cho tôi một bát cháo của người.

Mà bát cháo ấy chẳng hiểu đã cho những gì, mùi vị lờ lợ, tôi nuốt trôi mấy thìa, thực sự khó cầm lòng được, cứ cảm thấy trong bụng lạo xạo nôn nao.

Vĩnh Nương trông sắc mặt tôi không được tươi tắn, liền vội vã tiến lên, dâng chung trà. Bụng dạ cồn cào khó chịu chết mất, đến trà cũng không dám uống, thì thào bảo Vĩnh Nương: “Ta buồn nôn…”

Thái hoàng thái hậu bước qua tuổi 70 rồi song tai vẫn thính lắm, nói nhỏ thế mà cũng nghe được: “Hả? Buồn nôn à?”

Không đợi người phân phó, đám cung nữ đã xúm lấy, cần ống xúc miệng có ống xúc miệng, cần nước có nước, cần khăn bông có khăn bông, người vỗ vai, kẻ dâng lồng hương. Ở cung Thái hoàng thái hậu dùng loại sáp thơm long diên hương, tôi cứ cảm thấy ngai ngái mùi hương ấy, nhất là khi lồng hương dí sát ngay bên người, hơi khói xộc thẳng vào mũi, không kiềm lại được, nhưng chẳng nôn được gì, chỉ có ít nước trong. Vĩnh Nương bưng hoa lộ cho tôi xúc miệng, sau phen sốt vó ấy, Thái hoàng thái hậu nôn nóng giục giã: “Mau truyền ngự y!”

“Dạ thôi….” Chắc tại đêm qua bị nhiễm lạnh, Lí Thừa Ngân bỏ đi xong đến nửa đêm tôi vẫn trằn trọc ngồi lặng người, đến chăn cũng quên đắp, mới sáng dậy đã cảm thấy bụng đau âm ỉ, bây giờ lại chuyển thành tức tức, tôi thưa, “E là ăn nhầm…”

“Truyền Ngự y mau.” Thái hoàng thái hậu mặt mày rạng rỡ, “Chắc mẩm 8 phần là có tin vui, cháu không phải thẹn thùng nữa! Đâm hoa kết trái âu là lẽ thường tình, có gì mà phải ngượng ngùng! Đúng rồi, cần truyền cả Khâm Thiên Giám đến nữa, cháu nói xem đứa bé này nên đặt tên gì thì hay nhỉ…”

Tôi…tôi…suýt chút nữa thì tức ói máu….chẳng ngờ Thái hoàng thái hậu lại nóng vội tưởng tôi có tin vui, nhưng vấn đề là, chúng tôi đã tý toáy này nọ đâu mà đòi có em bé…

Ngự y chẩn đoán bao tử tôi bị nhiễm lãnh, lại ăn phải cháo nhung hương, bởi vậy mới gây buồn nôn. Thái hoàng thái hậu tỏ vẻ thất vọng trông rõ, hỏi đám người hầu: “Thái tử đâu?”

“Dạ khởi bẩm, sắp tới đại lễ Nguyên Thần, nên hôm nay Điện hạ đã vào Trai Cung…”

Thái hoàng thái hậu đột nhiên nổi giận đùng đùng giơ tay lên vỗ mạnh xuống kỷ trà: “Trai Cung cái nỗi gì! Bất hiếu có ba tội, không con nối là tội lớn nhất! Phụ hoàng nó xưa kia bằng tầm này đã có những 3 người con trai! Nó luống 20 tuổi rồi, còn chưa định lên chức cha hay sao! Cái ngữ Triệu lương đệ kia cả ngày quấn lấy nó, đến quả trứng cũng không biết đẻ như nào! Lại ả Tự bảo lâm nọ, đang yên đang lành có đứa con, nói mất là mất ngay cho được! Cứ thế này, bao giờ ta mới được bồng chít? Lẽ nào muốn ta thác xuống cửu tuyền vẫn không nhắm nổi mắt cho nó hả dạ chăng?

Thái hoàng thái hậu vừa nổi cơn giận dữ, người người trong điện đã quỳ sụp xuống, nơm nớp nói không ngơi: “Xin Thái hoàng thái hậu bớt giận!” Nhưng càng nói càng chỉ khiến Thái hoàng thái hậu đâm bực: “Người đâu! Truyền Lí Thừa Ngân đến gặp ta! Ta không tin ta không nói nổi nó, càng không tin đến sang năm mà ta vẫn chưa có chít bồng!”

Thái hoàng thái hậu cũng giống tôi, lôi cả họ tên của Lí Thừa Ngân ra mà gọi. Thế nhưng Thái hoàng thái truyền hắn đến mắng mỏ, lúc về thể nào cũng đổ vạ cho tôi xàm tấu bậy bạ, nói không chừng chúng tôi sắp có trận cãi vã to rồi.

Cãi thì cãi, dẫu sao tôi cũng chẳng sợ.

Nhưng tôi bất ngờ nhất là, Thái hoàng thái hậu quả nhiên bụng dạ nham hiểm, gọi Lí Thừa Ngân đến xong chẳng hề nhiếc chửi gì, mà tỏ vẻ ôn tồn hòa nhã hỏi hắn: “Tắm gội xông hương rồi hả?”

Tắm gội xông hương là những việc bắt buộc phải làm trước khi nhập Trai Cung, Lí Thừa Ngân không rõ rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, thế nên chỉ đáp: “Vâng ạ.”

“Vậy thì tốt.” Thái hoàng thái hậu nói, “May cho cháu rồi, mấy ngày này không cần cháu thanh tịch ăn chay nữa, dẫu sao liệt tổ liệt tông cũng chẳng trách cứ gì. Người đâu, đưa Thái tử điện hạ và Thái tử phi đến điện Thanh Vân, chưa có lệnh của ta, không được phép mở cửa!”

Tôi đần cả người, đám cung nhân cứ thế lôi lôi kéo kéo, bâu kín như tổ ong nhồi bằng được chúng tôi vào điện Thanh Vân, “rầm” một tiếng, cửa đóng sầm lại trước mặt chúng tôi. Tôi lay mãi, cánh cửa vẫn bất động không một vết sứt mẻ.

Lí Thừa Ngân lạnh lùng nguýt tôi, tôi quay ngoắt lại trừng mắt với hắn.

Từ kẽ răng hắn rặn ra 2 chữ: “Đê tiện!”

Tôi đâm bực mình: “Liên quan gì đến thiếp? Chửi cái nỗi gì?”

“Nếu như nàng không nói năng vớ vẩn trước mặt Thái hoàng thái hậu, sao người phải nhốt chúng ta?”

Tôi ấm ức chẳng thèm để ý đến hắn nữa, may mà trong điện khá ấm áp, tôi ngồi lặng bên bàn, vạch ngón tay ra chơi một cách vô vị, thà nghịch ngón tay mình còn hơn cãi vã với hắn.

Chúng tôi bị nhốt nửa ngày, trông sắc trời dần tối, có cung nhân đưa cơm canh trà nước qua cửa sổ, không đợi tôi thốt lên tiếng, cửa sổ đã đóng sầm ngay trước mặt.

Hẳn là Thái hoàng thái hậu đã dặn dò không ai được quyền tiếp chuyện tôi. Tôi đăm chiêu ủ dột, nhưng mà cơm thì vẫn cứ phải ăn, ngồi buồn tẻ nửa ngày bụng đói cồn cào. Mà còn có những 2 món tôi hằng thích, tự đơm cho mình 1 bát đầy, hào hứng ngồi phịch xuống, chén ngon lành. Thoạt đầu Lí Thừa Ngân yên vị không nhúc nhích, sau đó xem chừng cũng đói, hơn nữa có bát bánh canh vừa miệng, thế là hắn cũng ra ăn một thể.

No cơm ấm cật sinh…sinh ra… chán ngắt…(* nguyên văn câu này là ‘no cơm ấm cật sinh ra dâm dật đủ trò)

Tôi đi tới đi lui trong điện, cuối cùng ngồi khoét mấy hòn sỏi bên bồn cây, bắt đầu bày trò tự chơi cờ một mình.

Chẳng rõ đã chơi được bao lâu, chậu sưởi trong điện không có người thay than, chỗ củi tàn cứ thế lụi dần.

May quá, trong điện còn chậu sưởi nữa, tôi chuyển chỗ lên giường rồi tiếp tục trò chơi, nằm trong chăn thoải mái thế đấy, chỉ tiếc chưa chơi được lâu, đèn cầy cũng xịt luôn.

Ngoài sân vẫn còn cây nến, tôi ôm người run cầm cập toan đi lấy, nhưng vừa lết được mấy bước đã thấy lạnh cóng, liền dứt khoát kéo luôn cái chăn theo, cứ thế choàng chăn lên người rồi mới chịu ló ra ngoài. Thấy Lí Thừa Ngân ngồi ở đằng kia, tôi đội chăn kín mít, chăm chăm lo nhấc được giá nến thì vào, vừa dợm bước đã không kìm được lòng quay ra hỏi hắn: “Chàng ngồi đây không thấy lạnh à?”

Hắn còn chẳng thèm liếc tôi đến 1 cái, rít qua kẽ răng, ném cho tôi 2 chữ: “Không lạnh!”

Ớ!Sao giọng hắn lại run thế nhỉ?

Một tay tôi túm chặt chăn trước ngực, tay kia nâng giá nến lên soi cho kỹ sắc mặt hắn, tôi cũng có làm gì nghiêm trọng đâu, hắn đã giật nảy mình bật dậy.

Trời thì lạnh buốt, mà trán hắn sũng mồ hôi, thêm sắc mặt đỏ lựng, như thể đang phát sốt.

“Chàng sốt đấy à?”

“Không!”

Trông thân người hắn run như cầy sấy, tôi đặt giá nến xuống, sờ trán hắn xem, nếu mà hắn phát sốt thật hóa ra lại hay, chỉ cần hắn đổ bệnh, Thái hoàng thái hậu nhất định sẽ thả chúng tôi ngay lập tức.

Tôi vừa mới hơi đụng chạm, hắn đã khẽ rên một tiếng, giơ tay tóm gọn tay tôi, tôi bị túm cổ áp sát ngay trong lòng hắn. Đôi môi ấy nóng rẫy, hắn hôn trong cơn run rẩy, hôn ngấu nghiến đến khi ngạt thở. Phả trên mặt tôi là hơi thở nóng rực khiến tôi cứ ngờ ngợ, nhưng rất chóng vánh sự ngỡ ngàng ấy vụt qua, hắn bất thình lình hẩy tôi ra, nghiến răng bảo: “Trong canh có thuốc.”

“Thuốc gì? Canh gì có thuốc?”

Sao có thể chứ! Thái hoàng thái hậu thương nhất chắt trai mà, tuyệt đối không đưa hắn ăn mấy thứ bậy bạ bao giờ.

Với lại bát canh thừa vẫn đặt nguyên trên bàn, tôi dí mũi hít hà một hồi, ngửi chán chẳng thấy gì. Lí Thừa Ngân đột nhiên ôm ngang thắt lưng tôi, môi áp trên vành tai: “Tiểu Phong…”

Toàn thân tôi nhũn nhùn tê liệt trong vòng tay hắn, cũng không biết vì sao, vì những cái hôn nơi vành tai, hoặc biết đâu vì hắn đã gọi tên tôi.

Đấy là lần đầu tiên hắn thốt lên tên tôi, trước đó lúc nào cũng “này” “nọ” mà gọi, à còn nữa, sao hắn lại biết tên tôi?

Lí Thừa Ngân xoay mặt tôi về phía hắn, miệng hắn ngậm trọn vành môi tôi, sự nồng nàn ấy trước nay chưa từng tồn tại, dường như muốn nuốt gọn tôi, cả người hắn nóng rừng rực tỏa hơi bỏng rẫy như nồi nước đang sôi

Tôi chợt hiểu ra thứ thuốc nào được bỏ trong canh.

Hả!Á!Ôi!

Thái hoàng thái hậu ơi, người già mà không nên nết!

Thế mà…vậy mà…lại…

Tôi hộc máu mất thôi…tôi không còn gì để nói nữa rồi…tôi gọi trời trời không hay, vái đất đất không thấu…

Trong khi Lí Thừa Ngân đã vạch mở vạt áo tôi, hắn vừa cắn tới tấp, vừa đẩy tôi vào giường.

Hai chúng tôi vật lộn 1 hồi, chẳng mốc chốc tôi đã lép vế, bị hắn kiên quyết hất văng lên giường. Tôi quẫn bách nghĩ, chẳng rõ mai hắn có hối hận hay không, Triệu lương đệ của hắn mà biết được thì có làm ầm lên không, mà còn cả tôi nữa, há chẳng phải tội nghiệp chết đi à…

18 món võ nghệ tôi đều giở sạch, thế mà quần áo trên người từng chiếc từng chiếc cứ không cánh mà bay, Lí Thừa Ngân không chỉ cởi áo quần tôi mà ngay cả áo trên người hắn cũng tự lột luôn, tôi chẳng hiểu nam phục thì tháo nút kiểu gì, hắn tuột nhanh như chớp, nhoáng cái đã lộ ra phần ngực trần…nhìn cái này liệu có bị đau mắt hột không nhỉ? Có bị đau mắt hột không? Tôi chưa từng nhìn thấy hắn trong tình trạng thiếu vải bao giờ…

Trông mắt tôi đảo qua đảo lại, vậy mà khóe mép Lí Thừa Ngân nhếch cao, lộ ra kiểu cười quỷ quái: “Đẹp à?”

“Đồ lưu manh chết tiệt!” Tôi trỏ trỏ hắn, “Đẹp cái nỗi gì! Đừng tưởng thiếp chưa từng nhìn ai nhé! Chưa từng ăn thịt lợn nhưng thiếp nhìn lợn chạy nhiều rồi!”

Lí Thừa Ngân không tranh cãi với tôi, trái lại hắn còn hùa theo, áp sát tai tôi buông giọng hỏi ngọt sớt: “Vậy…giờ có muốn thi heo chạy không?”

“Hả!”

Thời khắc ngàn cân treo sợi tóc ấy, tôi hiên ngang lẫm liệt đoạn gào lên: “Sắt Sắt!”

“Sắt Sắt cái gì!”

“Sắt Sắt của chàng ấy!” Tôi lay cánh tay hắn, “Nghĩ cho Triệu lương đệ đi, chàng không thể có lỗi với muội ấy được! Chàng đừng phụ lòng muội ấy! Chàng thích muội ấy nhất cơ mà!”

“Nàng là thê tử của ta, ta và nàng chính đáng…không thể coi như có lỗi với nàng ấy được!”

“Điện hạ có thích thiếp đâu!”

“Ta thích nàng!” hắn rủ rỉ nói, “ta thích nàng…”

“Tại chàng uống nhầm thuốc thôi!”

“Ngay cả uống nhầm thuốc ta vẫn cứ thích nàng, Tiểu Phong, ta thích nàng, thật đấy.”

Tôi không chịu nổi nữa rồi, đàn ông rặt 1 lũ cầm thú, đồ cầm thú! Có tí thuốc bổ vào đã biến thành thế này rồi, gạt phăng Triệu lương đệ sang 1 bên, mắt lúng liếng như cún con nhìn tôi, thiếu điều chảy nước dãi. Tôi lay hắn: “Chàng là Thái tử, là Thái tử đấy! Nhịn mấy cái tầm thường này đi! Kiên trì vào! Bình tĩnh nào! Đừng một lần sảy chân…cái gì gì mà hận ấy nhỉ!”

“Một lần sảy chân để hận nghìn đời…”

“Đúng rồi! Một lần sảy chân để hận nghìn đời! Nhẫn nại 1 tí…Vì Triệu lương đệ…chàng phải giữ gìn tiết tháo của mình…”

“Ta không muốn giữ!” giọng hắn nỉ non như giọng 1 con cún, “sao nàng máu lạnh thế, vô tình thế, tàn nhẫn thế!”

Tôi sởn hết cả da gà: “Thiếp máu lạnh đâu? Vô tình đâu? Tàn nhẫn đâu”

“Nàng có chỗ nào không máu lạnh? Chỗ nào không vô tình? Chỗ nào không tàn nhẫn?”

“Thiếp máu lạnh chỗ nào? Vô tình chỗ nào? Tàn nhẫn chỗ nào?”

“Ở đây! Ở đây này! Đây nữa!”

Mẹ ơi…Ngờ đâu hắn lại cắn…cứ cắn…nhục chết mất thôi!

Tên đã trên dây, ngàn cân treo sợi tóc!

Tôi quyết tâm rồi, nghiến răng chụp lấy gối sứ sau đầu nện cho Lí Thừa Ngân 1 cú, quả thật trong lúc hoang mang bối rối, hắn hoàn toàn mất cảnh giác, chiếc gối sứ nện trúng ngay góc trán.

“RẦM!”

Ngất rồi.

Ngất thật rồi.

Trên trán Lí Thừa Ngân nổi cục sưng to như quả trứng gà, tay chân tôi lóng ngóng vung loạn xạ đoạn dùng gối sứ ghì chặt xuống chỗ bị sưng, Vĩnh Nương từng dạy tôi mẹo này, có lần tôi va đầu vào chốt cửa, trán sưng vù 1 cục, bà ấy dạy tôi cứ đội gối sứ lên, hỏi thì bảo mấy vết sưng tấy sẽ sớm tan.

Đến ngày hôm sau, cục u trên trán hắn vẫn y nguyên, nhưng mà hắn lại khoan thai trở mình, vừa tỉnh đã trợn mắt nhìn tôi: “Sao nàng lại trói ta?”

“Kẻo sa chân một bước để hận đến nghìn đời chứ sao nữa, chịu khó đi.” Tôi vỗ vỗ mặt hắn ra chiều an ủi, “Chàng muốn lật người à? Để thiếp giúp chàng.”

Ngẫm ra, hắn đã nằm bất động cả 1 đêm, ắt chẳng thoải mái gì cho cam, nhưng mà tôi dùng đầu dây sắt móc màn trói chặt tay chân hắn rồi còn đâu, muốn lật người e cũng khó. Tôi đã phải dốc sức ba bò chín trâu, cốt đẩy hắn xoay sang nằm nghiêng, nhưng quá trình xê dịch rõ gay go, lóng ngóng thế nào mà cả người ngã sóng soài trên thân hắn, riêng phần tóc tai rối bù móc vào khuy cài màn, gỡ mãi không ra.

Đôi mắt hắn rừng rực chỉ chực trào lửa: “Nàng đừng có trèo leo trên người ta nữa, được không?”

“Xin lỗi, xin lỗi nhé.” Tôi lúng túng đừng việc gỡ tóc, ngưng được 1 lúc hắn lại bắt đầu hôn tôi, thoạt đầu nụ hôn đọng trên bờ vai, thế rồi rơi xuống cổ, những vết gặm nhấm tràn trề cám dỗ, dấy lên trong tôi một thoáng rùng mình.

“Cởi trói đi.” Hắn thì thầm bên tai, giở trò cám dỗ bịp bợm ngậm dáy tai tôi, “Ta cam đoan không làm chuyện gì xấu đâu….nàng thả ta trước đã….”

“Đời nào thiếp tin chàng!” Tôi không việc gì phải khách khí cả, bao năm đấu trọi với hắn rồi, có dùng đầu ngón chân nghĩ cũng biết hắn ắt đang bày trò. Tôi lần mò mãi cuối cùng cũng gỡ được tóc, nhỏm dậy hung hăng nguýt hắn 1 cái: “Ngoan ngoãn chịu đựng đi!”

“Ta muốn…”

“Cấm được muốn!”

“Ta cần lắm!”

“Không cho phép cần!”

Hắn gầm lên: “Nàng biết điều tí đi! Con người ta có 3 việc gấp! Sao nàng chẳng khôn ngoan gì thế! Ta muốn đi giải quyết!”

Tôi ngớ người, cũng phải, con người ta có 3 cái gấp, lần trước ở Đông Cung tôi chẳng phải đã sốt vó cả lên, gấp đến nỗi suýt khóc. Ngẫm thấy cũng đồng cảm, dù sao không thể cấm hắn đi nhà cầu được.

Tôi tháo 2 chiếc móc màn đang quấn trên tay hắn, nói: ‘Đi đi!”

Hắn giải quyết chuyện riêng xong quay về, vừa lúc cung nhân đẩy cửa bước vào, thấy trên đất vất ngổn ngang quần áo, lũ bọn họ thoáng đỏ mặt. Lại trông vết sưng trên trán Lí Thừa Ngân, ánh mắt càng có phần kì quái. Cung nữ dâng trà nước cho chúng tôi xúc miệng, lại hầu thay xiêm y, xong xuôi cả đoàn người lập tức lui xuống, đến một cách bất ngờ và rút lui trong chớp nhoáng, thậm chí còn khóa trái cửa.

Tôi nóng nảy nghĩ bụng, định nhốt bọn này đến bao giờ nữa…

Lí Thừa Ngân cũng tức mình, bữa sáng vừa dâng lên lại có món bánh canh bỏ thuốc, hắn gào lên qua ô cửa sổ: “Cụ ơi…cụ muốn ép chết chắt trai của cụ ư?”

Dẫu sao chẳng liên quan gì đến mình, cùng lắm là không ăn.

Lí Thừa Ngân cũng không đụng đũa, chỉ có giường là nơi ấm áp nhất, hai chúng tôi đành ôm bụng đói mốc meo lên giường nằm.

Thái hoàng thái hậu thật dã man, thậm chí chậu than cũng không cho người đến thay.

Lí Thừa Ngân đối với Triệu lương đệ trông thế mà cũng tốt chán, thà đói chứ không đành một lần sảy chân để hận nghìn đời.

Thế nhưng cứ nằm mãi trên giường cũng chán, lúc đầu 2 chúng tôi chơi cờ, sau đó hắn thắng suốt, còn tôi rặt chỉ thua, hắn chán chẳng buồn chơi nữa, bảo chơi chẳng thú vị gì cả. Đến tầm trưa, chúng tôi đói cồn cào đến nỗi nói chẳng ra hơi, Lí Thừa Ngân còn lôi tôi ra làm thú giải sầu: “Hát cho ta nghe đi!”

“Sao thiếp phải hát cho chàng nghe?”

“Nàng không hát hả?” Lí Thừa Ngân giả đò bật dậy: “Vậy ta ăn bánh canh kia nhé.”

Tôi túm chặt hắn: “Được! Được! Thiếp hát!”

Mà tôi có biết hát bài nào khác đâu, hát đi hát lại mãi 1 bài: “Có con cáo nhỏ ngồi trên cồn cát, ngồi trên cồn cát, ngắm nhìn ánh trăng. Ô…thì ra không phải nó đang ngắm trăng, mà đang đợi cô nương chăn cừu trở về…Có con cáo nhỏ ngồi trên cồn cát, ngồi trên cồn cát, sưởi nắng…Ô… thì ra không phải nó đang sưởi nắng, mà đang đợi cô nương cưỡi ngựa đi qua…”

Lí Thừa Ngân chê tôi hát chán, tôi hát được hai đoạn hắn đã cấm chỉ tôi hát tiếp. Chúng tôi vẫn nằm dài trên giường, rỗi hơi đi nói mấy chuyện giời ơi đất hỡi.

Cũng tại buồn tẻ quá, nên Lí Thừa Ngân bắt đầu nói liên miên, hắn kể toàn những chuyện trước nay tôi chưa từng nghe. Thế là tôi đã hiểu vì sao Đông Cung lại gọi là Đông Cung, rồi biết hóa ra hồi nhỏ tay Lí Thừa Ngân này cũng bướng phết, còn biết cả chuyện hắn từng nhổ trộm râu của lão tướng quân Bùi Huống. Rồi chuyện nhũ nương hắn quý mến nhất năm ngoái vừa bệnh qua đời, phải một thời gian dài hắn mới vượt qua được chuyện này. Biết thêm cả chuyện lúc nhỏ hắn chuyên môn gây gổ với con trai của Trung Vương, hắn còn tiết lộ vài chuyện lùm xùm trong Hoàng cung, toàn mấy tin trước kia tôi nào đã được nghe, hóa ra Phổ vương Lí Thừa Nghiệp tiểu đệ cùng cha khác mẹ với hắn thích đàn ông thật, rồi cả vì sao công chúa Vĩnh Ninh làm loạn lên đòi xuất gia…

Tôi có nằm mơ cũng chẳng mò ra, có 1 ngày tôi và Lí Thừa ngân chỉ có 2 người, lại nằm dài trên giường nói chuyện phiếm.

Hơn nữa còn nói đến sục sôi ngất trời.

Tôi kể cho hắn nghe vài chuyện bên ngoài cung cấm, toàn mấy chuyện tôi tai nghe mắt thấy lúc thường ngày dạo chơi ngoài đường, Lí Thừa Ngân nào có biết tôi lại am hiểu sâu rộng đến thế, hắn nghe đến say mê hứng thú, bị tôi dọa là cái chắc.

Lí Thừa Ngân hỏi tôi: “Nói tóm lại, nàng đã thấy lợn chạy ở chỗ nào thế?”

Tôi ngẩn ra chưa kịp định thần: “Lợn chạy nào?”

Hắn tỏ vẻ chẳng mấy thiện cảm: “Không phải nàng bảo nàng chưa ăn thịt lợn, nhưng lại thấy lợn chạy rồi đấy thôi?”

“À!” Tôi phấn khởi nhỏm dậy, hoa tay múa chân miêu tả phường Minh Ngọc cho hắn nghe. Tôi tâng bốc phường Minh Ngọc lên thành chốn tiên cảnh giữa nhân gian, nào là bên trong thì vô số tiên nữ, nào là đán sáo hát ca, thơ từ ca phú, không gì không tường, không gì không biết…

Sắc mặt hắn chuyển sang tối sầm: “Vậy là nàng đến kỹ viện chơi à?”

“Kỹ viện cái nỗi gì, là phường Minh Ngọc chứ!”

“Đường đường là Thái tử phi của thiên triều, mà lại mò vào chốn kỹ viện!”

Trời đất ơi, giọng hắn rõ to, không chừng vách chỗ này còn có tai! Tôi bổ nhào đến bịt miệng hắn, quýnh quáng bảo: “Đừng có gào lên! Gào cái gì! Thiếp chỉ đi mở mang tầm mắt thôi, có làm gì xấu xa đâu!”

Lí Thừa Ngân liếc xéo tôi, dưới sức ép của lòng bàn tay tôi, hắn ậm ờ bảo: “Trừ phi…nàng…ta sẽ không kêu…”

Đừng bảo lại muốn gặm môi nhé?

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 11 Mar 2015 03:01 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47724
Thanks: 321
Thanked: 29450 times
Chương 9


Lũ đàn ông rặt 1 một thói chung ấy?

Tôi đương nhiên không vui: “Hôm qua chàng đã hôn thiếp mấy lần rồi, chúng ta thế là sòng phẳng lâu rồi nhé.”

Lí Thừa Ngân vạch cổ áo ra, chỉ vào vết sẹo trên ngực: “Thế cái này thì tính sao? Nàng định trả thế nào?”

Tôi trông vết sẹo có màu hơi hồng hồng ấy, không khỏi có chút nhụt chí: “Là do thích khách đâm chàng đấy chứ, có phải thiếp đâm đâu.”

“Là vì cứu nàng mạng nàng đấy nhé! Ta mà không đẩy nàng ra, không chừng nàng đã bị thích khách lấy mạng rồi.”

Tôi không còn gì để bẻ lại, những gì hắn nói hoàn toàn là sự thật, chẳng qua tôi vẫn cố cãi bài cùn: “Giờ chàng muốn thế nào?”

“Lần sau nếu nàng đến phường Minh Ngọc, phải dẫn ta theo.”

Tôi hãi hùng: “Chàng…chàng…” Tôi lớn tiếng quở trách, “Đường đường là Thái tử của thiên triều, mà lại tới kỹ viện!”

Lần này đến lượt Lí Thừa Ngân bổ nhào đến bịt miệng tôi, quýnh quáng bảo: “Đừng có gào lên! Gào cái gì! Ta chỉ đi mở mang tầm mắt thôi, có làm gì xấu xa đâu!”

“Chúng ta bị nhốt ở đây, cứ cái đà này, đi Minh Ngọc phường chơi làm sao được…” tôi tỏ vẻ hệt như rầu rĩ, “Thái hoàng thái hậu định giam chúng ta đến sang năm luôn chắc…”

Lí Thừa Ngân bảo: “Không sao, ta có cách!”

Biện pháp của hắn thật đúng là biện pháp tồi, lại bảo tôi giả bệnh chứ.

Tôi giả thế nào được.

Từ nhỏ tôi đã khỏe như ngựa, chỉ khi đến Thượng Kinh thì mới ốm đau có 1 lần, bảo tôi giả bệnh, tôi biết thế nào mà giả.

Lí Thừa Ngân nói tôi cứ nằm ngất ra đấy là được, nhưng tôi không làm nổi đâu, tôi cứ nằm 1 lúc là không kìm được phá lên cười, sau đó Lí Thừa Ngân sốt ruột lắm, bảo: “Nàng không làm, ta làm!”

Hắn đóng kịch mới khéo làm sao, vừa lật ra giường đã duỗi thẳng đơ rồi nằm bất động.

Tôi gào lên qua khung cửa sổ: ‘Người đâu! Thái tử điện hạ ngất rồi này! Có ai không…” Tôi phải hét đến mấy câu xong, cửa điện cuối cùng mới mở toang, nhiều người xộc vào 1 lúc, nội cung tất tả đi truyền ngự y, phen này kinh động đến cả Thái hoàng thái hậu rồi.

Ngự y bắt mạch chẩn bệnh nửa ngày trời, sau cùng chỉ kết luận mạch tượng Lí Thừa Ngân không rõ ràng, tỳ khí hư.

Hai bữa đói meo nào đã ăn gì, đương nhiên tỳ khí hư vậy thôi. Nhưng mà Thái hoàng thái hậu đâu có nghĩ thế, người lại cho rằng Lí Thừa Ngân ngất vì kiệt sức, thế nên dù cho người có già không nên nết, cũng không đành nhốt chúng tôi mãi được.

Tôi thì được tiễn về Đông Cung, song Lí Thừa Ngân lại không có vận may ấy, hắn vẫn phải vào Trai Cung, dù gì thì mai sắp phải tế trời.

Dẫu đã về tới Đông Cung, nhưng đợt này nhiều việc bận bịu cần giải quyết rốt ráo, bệ hạ không hề để Cao quý phi đứng ra lo liệu đại lễ Nguyên Thần, mà việc ấy tạm thời do tôi làm chủ.

Tết nhất bận tối mắt tối mũi, thành ra mệt bã người, chẳng thấy tẹo thích thú nào.

Cái đáng lo nhất bây giờ là đại lễ Nguyên Thần, mặc dù có Vĩnh Nương và Cao quý phi phụ giúp, nhưng cái bài lễ nghi rườm rà ấy phí của tôi biết bao nhiêu thời gian để học thuộc, hơn nữa nối đuôi nhau ùn ùn kéo đến còn có không ít yến tiệc lẫn lễ lạt.

Hằng tối mỗi lúc ngồi tẩy trang tháo trang sức, tôi chỉ rặt gà gật, thế rồi hằng sớm toàn là lúc trời còn chưa hửng sáng, đã lại bị Vĩnh Nương lôi khỏi giường để trang điểm. Trước kia lúc có Hoàng hậu, tôi chẳng hề hấn gì, giờ thì khổ sở không biết bao nhiêu mà kể. Tôi nào là phải tiếp kiến vô số người quen lẫn không quen, nào là phải chệu chạo nhai những bữa cơm chẳng rõ mùi vị gì, mỗi 1 tuần rượu đều có nữ quan xướng tên, chúc mấy lời may mắn, rồi thì phải xem múa hát rõ nhạt nhẽo, nghe mấy vị mệnh phụ nội ngoại cười nói líu lo.

Bữa yến thú vị duy nhất chỉ có hôm mùng 5, hôm đó toàn thể dâu mới trong dân gian đều về thăm đằng ngoại, mà Hoàng thất thì có thết tiệc mời hết thảy các công chúa. Chủ yến là hai bà cô, vốn là cô của Hoàng đế bệ hạ, sau đó lần lượt là mấy vị trưởng công chúa, đều là cô của Lí Thừa Ngân. Dẫn đầu kính rượu tôi có trưởng công chúa tên gọi công chúa Bình Nam, bởi lẽ tôi là Thái tử phi, tuy vẫn là hậu bối, nhưng trước mắt ngôi vị Hoàng hậu còn bỏ ngỏ, tôi vẫn được xem như nữ chủ nhân của Hoàng thất.

Tôi nhấp ngụm rượu, đích thân Vĩnh Nương đỡ BìnhNamcông chúa bình thân, tôi chợt nhớ ra, trưởng công chúa BìnhNamlà mẫu thân của Bùi Chiếu đây mà.

Bùi Chiếu và bà ấy chẳng được mấy nét hao nhau.

Thành ra bất giác tôi mới đảo mắt tìm kiếm công chúa Lạc Hi, trước kia tôi thật chẳng mấy để ý đến muội ấy, chung quy cũng tại công chúa trong hoàng thất quá nhiều, tôi và đằng các công chúa không mấy khi gặp gỡ, lắm nàng trong mắt tôi cứ y chang y tạc, chính là cô bé đang mặc Địch y ngồi kia. Lần này nguyên do ở cả Bùi Chiếu nên tôi tỉ mỉ để mắt đến công chúa Lạc Hi, muội ấy có vẻ bề ngoài xinh đẹp, dáng dấp tao nhã, không ngờ nom muội ấy so với trưởng công chúa Bình Nam hệt như mẹ và con gái. Tiệc rượu hoàng tộc theo thông lệ thì phải có ngâm thơ vịnh phú. Từ tinh mơ Vĩnh Nương đã mời 2 cao thủ đến hộ tôi làm 3 bài “Mừng thái bình”, tôi cứ ngâm nga theo nguyên mẫu đã thuộc là được. Công chúa Lạc Hi ngâm một điệu Thanh bình, trong đó có đến vài chữ tôi không biết, chứ đừng bảo hiểu được ý tứ bài thơ. Thế nên tất cả mọi người đều khen thơ tôi là hay hơn cả, công chúa Lạc Hi chỉ về hạng nhì, tôi nghĩ bụng nàng công chúa này có lẽ là mẫu thê tử tiêu chuẩn mà đấng trượng phu hằng thích đây, lá ngọc cành vàng nhé, tính tình ôn hòa nhé, đa tài đa nghệ này, đối với Bùi Chiếu quả thật rất xứng đôi vừa lứa.

Tôi thấy Tết năm nay chẳng mấy vui vẻ, hoặc biết đâu là vì quá mệt mỏi, bẵng đi một thời gian không hề thấy bóng dáng Lí Thừa Ngân đâu, nghe đồn hắn và Triệu lương đệ giảng hòa rồi, hai người lại thắm thiết ngọt ngào như xưa. Tự dưng tôi thấy chạnh lòng, dù sao cả tháng giêng duy chỉ có ngày 15 tết Nguyên tiêu là khiến tôi mong chờ nhất.

Tôi thích Thượng Kinh âu cũng bởi có tết Nguyên tiêu.

Hoa đăng mười dặm, lầu cao chín tầng, pháo hoa tám phương, thất tinh bảo tháp, sáu phường rộn rã, năm chùa rền chuông, bốn cổng mở toang, ba non mừng rỡ, hai người cùng nhau, một đời yên ổn(*): vẻ đẹp của Thượng Kinh vào dịp tết Nguyên Tiêu được miêu tả như thế đấy. Phải mấy ngày nữa mới đến tết, trong những ngày giáp tết Nguyên tiêu, phố phường đã rực rỡ sắc màu đèn lồng, con phố Chu Tước trải dài mười dặm cũng không ngoại lệ, đèn làm tinh tế vô cùng, cứ 3 bước một cảnh, 5 bước đã đổi màu, về mặt tạo hình có đèn sơn thủy, nhân vật, đèn chim trời cá nước, kích thước từ to đến nhỏ, hoa đăng cứ gọi là muôn hình vạn trạng, rực rỡ sắc màu, chất đầy núi lấp đầy sông, nom hoa mắt chóng mặt, có thể diễn đạt bằng cụm “sinh động khéo léo tuyệt vời”. Hơn nữa, đêm đó, Thượng Kinh rợp trời pháo bông, nhất là ở tháp Thất tinh, nơi ấy tháp gạch, địa thế lại cao, thế nên những xưởng pháo hoa nổi tiếng nhất luôn chọn tháp Thất Tinh làm địa điểm để luân phiên bắn pháo, hay còn gọi là “chọi hoa”, lúc đó, phần lớn người trong thành Thượng Kinh hầu như đều được chứng kiến tiết mục rực rỡ hoa lệ ấy. Mà chính trong đêm Tết, tiểu thư khuê các con nhà công khanh thuộc 6 phường cũng được phép rủ nhau đi trảy hội, đêm đó được dịp thiếu nữ toàn thành nô nức xuống đường ngắm đèn kiêm ngắm người. Sau khi nghe Ngũ Phúc Tự thỉnh chuông cầu nguyện quốc thái dân an xong, các cổng thành chính Nam, chính Bắc, chính Đông, chính Tây của Thượng Kinh sẽ đồng loạt rộng mở, không cấm gì người đi lại, dân trong thôn xóm tiện bề vào thành ngắm hoa đăng. Mà núi Tam Doãn chính là nơi cầu duyên thiêng nhất trong thành, nghe truyền đạo quán trên núi Tam Doãn có từ đường thờ Nguyệt Lão, phàm là nam nữ còn độc thân, vào tết Nguyên Tiêu mà đến đó dâng hương, ắt sẽ có linh nghiệm. Đôi ngả song quy vốn là tập tục của Thượng Kinh, những người phụ nữ đã yên bề gia thất, ngày này nhất định phải cùng phu quân của mình đi ngắm hoa đăng, để thỉnh cầu một năm mới hạnh phúc, xuôi chèo mát mái, còn như vẫn chưa thành thân thì cũng sớm gặp được ý trung nhân, cũng chẳng cần phải nói nhiều nữa, tết Nguyên Tiêu còn là dịp để nam nữ hẹn hò riêng, mà vẫn trong phạm vi cho phép của lễ giáo.

Nguyên Tiêu năm ngoái, tôi và A Độ đến Tam Doãn ngắm đèn, chen chúc đến nỗi đá văng cả giầy. Nghe đâu tối hôm đó số giày bị thất lạc lên đến mấy nghìn đôi, sau này đạo sĩ trên núi Tam Doãn quét dọn thu gom đống giấy ấy quyên góp cho người nghèo, phải đến mấy chiếc xe lớn mới kéo hết

Năm nay bụng bảo dạ phải lấy dây da bò quấn ủng cho thật chặt vào, kẻo lại bị người ta giẫm tụt giầy, những chỗ tưng bừng sôi nổi ngút trời như thế, đương nhiên tôi phải đi góp vui chứ nhỉ!

Tầm ngày 14 tháng giêng, những yến tiệc bái yết những chuyện nhốn nháo cuối cùng đã tạm gác sang 1 bên, tôi cũng đổ đốn trốn việc, một thân một mình ngủ ngon lành trong Đông Cung, lên tinh thần để còn đi chơi Nguyên Tiêu. Thế nhưng đang lưng chừng giấc, Vĩnh Nương đã vào gọi tôi dậy.

Tôi vẫn gà gật liêu xiêu, ngáp hỏi: “Lại chuyện gì à?”

“Dưới giường Tự bảo lâm phát hiện có bùa gỗ đào, nghe nói là vật yểm thuật, bên trên có ghi rành rành ngày sinh tháng đẻ của Triệu lương đệ, giờ Triệu lương đệ gây khó dễ với Tự bảo lâm, đôi bên đang hầu ngoài điện, muốn mời Thái tử phi xử trí.”

Tôi đã mệt lại buồn ngủ giờ đâm ra bực mình: “Lắm chuyện, mỗi một khúc gỗ ấy mà cũng phải ầm cả lên, Tết nhất còn chưa đâu vào đâu! Tự bảo lâm có phải ngốc đâu, vả lại khắc một khúc gỗ thì rủa chết được Triệu lương đệ chắc? Chẳng phải Triệu lương đệ vẫn sống sờ sờ ra đấy thôi!”

Vĩnh Nương nghiêm nét mặt, nói với tôi: “Trong cung cấm kỵ nhất là bùa ngải, có lẽ Thái tử phi chưa hay, mười năm trước có Trần Trưng vì vụ án làm bùa oán rủa Thánh thượng, mà bị ban giáng tử hình, tru di cả nhà. Thiên triều ta buổi đầu lập quốc, có Ngô hậu bị phế làm thường dân cũng bởi chuyện làm bùa yểm Hứa phi, thậm chí con trai thân sinh ra còn không được phép phong Vương….”

Rõ đau đầu, tôi sợ nhất mỗi lần Vĩnh Nương lôi những chuyện từ mấy trăm năm trước ra giảng giải, liền răm rắp bật dậy, gọi cung nhân hầu thay xiêm y, gấp ga gấp gáp rửa mặt chải đầu. Vĩnh Nương thưa: “Tuy chuyện Tự bảo lâm bỏ bùa ngải có phần kì lạ, nhưng dù sao Thái tử phi cũng nên cẩn thận, cố gắng đừng để bị trúng kế.”

Tôi thành thật hỏi thẳng: “Theo ý ngươi, ta nên giải quyết thế nào?”

Vĩnh Nương bẩm: “Thoạt đầu Thái tử phi có thể thoái thác, tấu lên Hoàng hậu để người phán xử, hiềm nỗi hiện nay ngôi vị Hoàng hậu còn bỏ ngỏ, lại phải dịp Tết nhất, không phải lúc thuận tiện để bàn những chuyện xui xẻo. Nô tì thiết nghĩ, Thái tử phi đừng ngại tấu chuyện này cho Thái tử điện hạ cân nhắc quyết định.”

Tôi không nói gì, ngẫm vụ này nếu như giao cho Lí Thừa Ngân, Tự bảo lâm hẳn sẽ bị định tội là cái chắc.

Triệu lương đệ là người con gái trong lòng hắn, không cần biết phải quấy ra sao, thể nào mà hắn chẳng nổi giận, rồi thì Tự bảo lâm lại xúi quẩy ra. Tự bảo lâm cũng tội nghiệp, Lí Thừa Ngân đã không ưa gì nàng ta, lần trước vào cung thăm nom, nàng ta chỉ khóc suốt, lần này xảy ra chuyện, xem ra khó giãi bày hết được. Tôi cứ ngẫm mãi, chỉ thấy không đành lòng.

Vĩnh Nương thấy tôi không nói lời, lại thưa: “Bẩm nương nương, giữa chốn ao tù nước đục này, nương nương trước nhất vẫn nên nghĩ cho mình là hơn cả.”

Tôi lớn tiếng nói: “Nghĩ cái gì cho mình, bảo ta mặc kệ Tự bảo lâm ấy à, cứ giao nàng ta cho Lí Thừa Ngân xử trí à, ta không thể làm như thế được!”

Vĩnh Nương chực nói thêm mấy lời khuyên tôi, tôi đã sửa sang lại váy áo, nói: “Truyền Triệu lương đệ và Tự bảo lâm vào.”

Mỗi lần tôi làm bộ làm tịch lòe thói Thái tử phi ra, Vĩnh Nương toàn đành chịu, Vĩnh Nương nắm cung quy thì vững lắm, lại thêm mười mấy năm giáo dưỡng, chung quy, bà ấy buộc lòng phải cung kính vâng lời mà thôi.

Triệu lương đệ thấy tôi, vẫn tỏ vẻ kính cẩn, hành đại lễ theo quy củ với tôi. Tôi khách sáo sai Vĩnh Nương dìu ả dậy, rồi thì cũng mời ngồi.

Song Tự bảo lâm vẫn quỳ dưới nền, gò má đỏ ửng, mắt cũng hoe hoe, như thể vừa mới khóc xong.

Tôi hỏi cung nữ: “Sao không đỡ Tự bảo lâm đi?”

Đám cung nhân không dám không nghe lời, liền vội vã vực Tự bảo lâm dậy. Tôi bắt đầu nói mấy câu tán gẫu: “Thời tiết hôm nay đẹp thật….hai tỷ muội đến chúc Tết ta chăng?”

Có câu ấy thôi đã khiến khuôn mặt Triệu lương đệ thoắt đỏ lại trắng, thoắt trắng lại đỏ.

Đáng lý ra, theo quy định của Đông Cung, mùng một bọn họ phải mặc trang phục hoàng tộc đến tẩm điện chỗ tôi khấu đầu hành lễ đầu năm, nhưng 3 năm này, Lí Thừa Ngân chỉ canh cánh lo tôi gây khó dễ với Triệu lương đệ, xưa nay không bao giờ để nàng ấy tự mình lại đằng tôi, vì lẽ đó mà tục ấy cũng bị bãi bỏ. Giờ tôi nói thế, Triệu lương đệ đã đoán bụng tôi đang mỉa mai ả. Thực ra, hôm đó trong cung bận bịu tổ chức đại lễ Nguyên thần, mãi tận đêm khuya mới về được Đông Cung, làm gì có thời gian để bày vẽ lễ tiết vô nghĩa ấy, mà Tự bảo lâm nào có đến khấu đầu với tôi đâu.

Tôi lúc bấy giờ không nghĩ sâu sa như thế, mãi sau này Vĩnh Nương thủ thỉ nói tôi mới hay. Lúc đó tôi chỉ thấy sắc mặt Triệu lương đệ cứ là lạ, cứ ngỡ nguyên do là vì tôi tỏ vẻ hòa nhã với Tự bảo lâm, thế nên tôi vỗ về Tự bảo lâm mấy câu rồi sai người đưa khúc gỗ kia ra.

Bởi lẽ bùa ngải bị cho là vật ô uế, tấm gỗ kia được đặt trên khay, cung nhân trình lên cho tôi xem, Vĩnh Nương không để tôi phải đụng tay vào.


Tôi ngắm nghía 8 chữ ngày sinh tháng đẻ được khắc rành mạch trên đó, nhìn mãi vẫn không nhìn ra manh mối nào khác. Tự nhiên trong đầu nảy ra 1 câu hỏi: “Sao đột nhiên lại đi lục soát dưới giường Tự bảo lâm thế?”

Tôi vừa dứt lời, mặt Triệu lương đệ thoắt biến sắc khó hiểu.

Vốn Triệu lương đệ có nuôi 1 con cún nhỏ, nó tự dưng chạy đâu không rõ, cung nhân tìm khắp nơi không thấy, có người thấy thì bảo nó chạy vào viện đằng Tự bảo lâm, thế là người của Triệu lương đệ liền xộc vào tìm. Tự bảo lâm cứ khăng khăng nói không thấy con chó nào ở đây cả, cung nhân hầu hạ Triệu lương đệ sao mà chịu tin được, ầm ĩ cả lên, nhốn nháo đổ đi lục soát, chẳng ngờ chó chưa tìm thấy, mà lại phát hiện ra tấm bùa này.

Triệu lương đệ thưa: “Xin thái tử phi giúp muội lấy lại công bằng.”

Tôi hỏi Tự bảo lâm: “Rốt cuộc thứ này ở đâu ra?”

Tự bảo lâm lại quỳ sụp xuống: “Thần thiếp quả thật không rõ, xin Thái tử phi minh xét.”

“Đứng lên, đứng lên đi.” Thì vốn dĩ tôi đã cực ghét những người hở 1 tý là quỳ, thế là tôi nói với Triệu lương đệ: “Chuyện ở đời, có lửa mới có khói, Tự bảo lâm vốn không duyên không cớ gì, hà tất phải yểm bùa muội? Ta cảm thấy chuyện này, không đơn giản…”

Triệu lương đệ lạnh lùng đáp trả: “Chứng cứ rành rành ra đấy, những lời Thái tử phi nói, phải chăng đang thiên vị Tự bảo lâm?”

Nàng ta chẳng hề khách khí cãi lại, ánh mắt càng hùng hổ. Không đợi tôi lên tiếng, Vĩnh Nương đã thưa: “Ý Thái tử phi nói phải điều tra nguyên do cẩn thận, không hề có ý thiên vị, xin Lương đệ kiệm lời.”

Bất thình lình ả ta đứng phắt dậy, vái tôi, nói: “Vậy thần thiếp đành chờ Thái tử phi điều tra vụ này vậy, chỉ mong sớm có một ngày cháy nhà ra mặt chuột, đến lúc đó đương nhiên mong Thái tử phi sẽ cho thần thiếp một lời giải thích rõ ràng.” Đoạn tiếp lời, “Thần thiếp xin được cáo lui.” Thế rồi không lôi thôi nữa, cũng chẳng đợi tôi đồng ý, ả đã nghênh ngang dẫn người bỏ đi.

Vĩnh Nương tức lắm, bảo: “Há lại như thế, mạo phạm đến thế là cùng!”

Tôi không nói gì, Triệu lương đệ ghét tôi cũng phải thôi, đằng nào thì tôi cũng chẳng ưa gì ả.

Tự bảo lâm vẫn quỳ từ nãy đến giờ, rụt rè nhìn tôi. Tôi thở dài, đích thân đỡ nàng ta dậy, hỏi: “Chuyện hôm nay, kể một lượt xem nào, rốt cuộc thì đã xảy ra chuyện gì.”

Tự bảo lâm dường như vẫn chưa hết hoảng hồn, cho đến khi Vĩnh Nương sai người rót trà nóng, nàng ta chậm rãi nhấp môi, lúc ấy mới nói được căn nguyên của câu chuyện.

Lúc đầu, nơi Tự bảo lâm sống vốn khuất nẻo, độ Tết này, trong cung có ban thưởng theo thông lệ. Những món đồ đó đối với tôi và Triệu lương đệ chẳng là bao, thế nhưng đối với Tự bảo lâm mà nói, âu cũng là những vật hiếm có. Tự bảo lâm tính tình ôn tồn, hai cung nữ tôi sai tới chăm sóc nàng ta hàng ngày đối với nàng ta rất trung thành, Tự bảo lâm lấy bánh trái ban cho mấy cung nữ đó ăn. Bởi lẽ vật ngự ban không thể tùy tiện biếu tặng kẻ khác được, thế nên đành phải lén lút khóa trái cửa, phòng có người đi qua bắt gặp.

Đúng lúc đó thì người của Triệu lương đệ bất thình lình gõ cửa, bọn họ giật mình hốt hoảng, phải lúc đang chột dạ, vừa giữ cửa, vừa tìm cách cất giấu chỗ bánh trái kia đi. Người của Triệu lương đệ vừa xộc vào đã ráo rác lục soát khắp nơi, Tự bảo lâm đương lúc chột dạ, đâu có chịu để bọn họ xông vào làm bừa, cộng thêm đám người Triệu lương đệ phái đến chẳng khiêm nhường gì cho cam, đôi bên lời qua tiếng lại, chóng vánh đã cãi cọ ầm ĩ cả lên, người hầu bên chỗ Triệu lương đệ xưa nay quen thói không làm thì thôi, đã làm thì phải làm cho trót, thế là bắt đầu xới tung cả phòng lên, chẳng ngờ chó còn chưa tìm thấy, thế nào mà lại tìm ra bùa gỗ đào ngay dưới giường Tự bảo lâm. Tấm gỗ ấy theo lẽ đương nhiên như chọc phải tổ ong vò vẽ, đám tay chân của Triệu lương đệ một mặt quay về bẩm báo với chủ nhân, một mặt giam lỏng Tự bảo lâm lẫn hai cung nhân trong viện. Triệu lương đệ vừa nhìn thấy tấm bùa, tức thì giận đến run rẩy cả người, không nói nhiều, vội dẫn thẳng Tự bảo lâm đến gặp tôi.

“Thần thiếp quả thực không biết thứ đó ở đâu ra…” Tự bảo lâm nước mắt lưng tròng đoạn nói, “Xin thái tử phi minh xét…”

Minh xét cái nỗi gì…Hai người bọn họ trời chẳng chịu đất, đất chẳng chịu trời, không ai chịu ai, xoay tôi như mòng mọng, tôi còn minh xét được cái gì nữa, song có điều khúc gỗ này hẳn không phải từ trên trời rơi xuống được. Tôi hỏi Tự bảo lâm: “Đồ ở ngay dưới giường ngươi, lẽ nào ngươi không biết ai đặt vào hay sao?”

Tự bảo lâm tưởng tôi hạch tội, giật mình quỳ phịch xuống: “Bẩm nương nương, thần thiếp tự biết mình phận hèn, trong lòng tuyệt đối không có ý tranh giành phô trương với ai, nào dám oán rủa gì Lương đệ…”

Tôi trông sắc mặt nàng ta sợ sệt lại tái ngắt, tôi vồn vã bảo: “Ta không có ý đó đâu, ta chỉ nói, vật này tự dưng để ngay dưới gối ngươi, hẳn không dễ dàng gì. Ngươi cả ngày quanh quẩn trong phòng, hai cung nhân kia ngày qua ngày ở bên hầu hạ, dạo gần đây liệu có kẻ khả nghi nào dạt qua chỗ ngươi, hoặc có manh mối nào đáng ngờ không?”

Tự bảo lâm nghe thế, mới dần trấn tĩnh lại, tập trung tinh thần nhớ lại xem có chỗ nào đáng nghi.

Nàng ta ngẫm nghĩ một hồi, chung quy vẫn thưa: “Thần thiếp không nhớ ra có kẻ nào khả nghi…”

Thôi, Tự bảo lâm này thì có khác gì tôi, cũng là dạng người lơ đễnh cả.

Tôi có thiện ý an ủi nàng ấy vài câu, rồi bảo nàng ấy cứ lui về. Nom Tự bảo lâm dường như còn bán tin bán nghi, tôi nói: “Năm dài tháng rộng, rồi cũng có ngày sự thật được phơi bày, sợ gì nào, đợi ra Giêng rồi nói.”

Nàng ta trông tôi có vẻ đã định liệu trước cả rồi, phỏng chừng tưởng tôi sớm đã nắm chắc manh mối trong tay, liền trịnh trọng bái chào tôi, rồi mới lui.

Vĩnh Nương hỏi tôi: “Thái tử phi đã có diệu kế nào để tìm ra hung thủ thật sự của án này chăng?”

Tôi ngáp một cái: “Ta thì có kế gì chứ, mấy vụ này ta không biết gì đâu.” Vĩnh Nương dở khóc dở cười, lại hỏi: “Vậy Thái tử phi định giải thích thế nào với Triệu lương đệ?”

Tôi trợn mắt nhìn bà ấy: “Bùa ấy có phải ta đặt dưới gầm giường nàng ta đâu, sao ta phải đi giải thích với ả?”

Vĩnh Nương nghe tôi nói mà cứ khóc dở mếu dở, càm ràm khuyên tôi mãi, tôi sớm đã buồn ngủ díp mắt, nghe chẳng được mấy chốc, đầu đã trẹo sang 1 bên ngủ gục.

Giấc ngủ ấy cứ say sưa, cho đến khi có người xách tôi dậy, nói thực thì tôi vẫn còn hơi mơ màng ngái ngủ, tuy Vĩnh Nương thường xuyên sai người kéo tôi ra khỏi giường, nhưng ít ra cũng còn dìu đỡ hoặc ẵm bồng, chẳng vô lễ xấc xược như cái người này.

Tôi hé mở mắt, ối! Lí Thừa Ngân! Hắn không chỉ xốc tôi dậy mà còn bảo: “Nàng vẫn ngủ được cơ à!”

Thôi xong, xong rồi, thế là xong!

Nhất định ả Triệu lương đệ kia đã mách lẻo với hắn, thế nên hắn kéo đến hạch hỏi tôi đây mà. Tôi xẵng giọng: “Có gì mà thần thiếp không ngủ được nào! Chuyện Tự bảo lâm chưa điều tra rõ thì là chưa điều tra rõ chứ sao nữa, điện hạ gào lên thì ích gì!”

“Tự bảo lâm lại có chuyện gì thế?” Hắn nhìn tôi, chân mày nhúm nhó lại thành cả cụm.

Hả? Hắn còn chưa biết à! Triệu lương đệ chưa thủ thỉ gì sao? Tôi đảo mắt cười nịnh bợ hắn: “Kìa…không có gì không có gì, chàng tìm thiếp có chuyện gì thế?”

“Mai là tết Nguyên tiêu rồi!”

“Thiếp biết chứ.” Nhảm thật, bằng không sao hôm nay tôi phải cố ngủ trọn ngày chứ, là để lên tình thần cho tối mai, để tiện đi ngắm nghía hoa đăng chứ còn gì nữa.

Hắn thấy tôi chẳng mảy may phản ứng, đoạn nói: “Mai ta phải hầu Phụ hoàng lên lầu Chu Tước, chúc dân trong thành ấm no.”

“À thiếp biết.” Đương nhiên phải biết chứ, năm nào cũng vậy, cứ độ tết Nguyên Tiêu, bệ hạ và hắn đều xa giá đến cổng Thừa Thiên, vẫy chào với dân trong thành, nghe bách dân thiên hạ hô “vạn tuế” rầm rầm, gọi tóm lại là “chúc phúc dân ấm no”, mà cứ nói toẹt ra là đứng hứng gió mất nửa ngày, may thay phận nữ nhi trong hoàng thất không phải đi theo, bằng không kiểu gì tôi cũng đông cứng thành cột băng trên cổng thành, đóng băng chỉ là chuyện nhỏ, bỏ lỡ dịp đi xem hoa đăng mới là chuyện lớn.

“Nàng đã hứa với ta gì nào?” Hắn gườm gườm với tôi, tỏ vẻ bực mình khó chịu.

Có 1 câu, phải nói thế nào nhỉ, gần vua như gần hổ, lòng vua khó đoán. Câu này thật đúng, tiếp con trai của hoàng đế cũng như tiếp hổ con ấy, ý khó đoán y chang nhau, hắn đang nghĩ gì tôi đoán mãi không ra. Chỉ dám rụt rè hỏi: “Thần thiếp đã hứa gì với điện hạ à?”

Thấy tôi tỏ vẻ không nhận, giọng hắn cao vút: “Quả nhiên nàng quên sạch bách! Nàng hứa sẽ dẫn ta đến kỹ viện chơi.”

Ối giời ơi! Câu này hà tất phải gào lên như thế?

Tôi bổ nhào đến chặn đứng ngay cái mồm hắn lại: “Bé tiếng chứ!” Vừa khéo lúc ấy, đoán chừng Vĩnh Nương biết Lí Thừa Ngân đến, lại không yên tâm, chỉ sợ chúng tôi cãi vã, liền tự mình vào nội điện, kết quả bà ấy vừa thò đầu vào, đã thấy ngay cảnh tôi như con cua 8 càng bấu víu trên người Lí Thừa Ngân, xiêm y chẳng những xộc xệch, mà tay còn đang bụm chặt lấy miệng hắn, Lí Thừa Ngân thì vừa xốc tôi khỏi giường, hai bàn tay vẫn đặt khư khư trên eo tôi….Quả thật trông tôi cứ như con khỉ đang vắt vẻo trên cành cây, nói chung tư thế hai người chúng tôi, bảo mập mờ có khối mập mờ, nói khả nghi, công nhận có thừa khả nghi….bà ấy chưa kịp nhìn cho rõ sự tình, đã giật mình, rụt đầu mất hút.

Tôi bực lắm, lần trước là A Độ, lần này đến lượt Vĩnh Nương, hà tất họ cứ phải bỏ chạy ngay chính những lúc thế này.

Lí Thừa Ngân lại tỏ vẻ dường như rất phấn khởi: ‘Dậy nào, ta sai người chuẩn bị quần áo ổn thỏa cả rồi. Ăn xong tết Nguyên tiêu, sợ không có dịp nào nữa.” Tôi cứ tưởng sau khi hắn làm hòa với Triệu lương đệ rồi thì sẽ quên chuyện này từ đời xa lắc xa lơ nào rồi chứ, ai mà biết hắn còn nhớ nguyên xi.

Quả nhiên hắn đã chuẩn bị sẵn một bao quần áo mới to tướng, trước kia tôi chưa từng được ngắm một Lí Thừa Ngân trong trang phục bình dân, chỉ thấy có nét gì đó kỳ quặc khó nói lên lời. Cũng không thể nói là chướng mắt, có điều không giống với dáng vẻ thường ngày của hắn cho lắm.

“Có phải dán râu giả lên không?” Hắn hào hứng bới râu giả từ trong bọc ra cho tôi xem. “Thế này thì đố ai nhận ra chúng ta.”

“Có phải mặc đồ đen đi đêm không?” Hắn khoái chí lôi quần áo từ trong bọc ra cho tôi xem, “Thế này có vượt tường leo nóc nhà cũng không hề hấn gì.”

“Có phải mang thuốc mê theo không?” Hắn phấn khởi lục thuốc mê từ trong bọc ra cho tôi xem, “Thế này có chấp 10 tên 8 tên tuyệt đối không thành vấn đề.”…..

Tôi thật sự không thể dằn lòng được nữa rồi, điện hạ ơi là điện hạ, người đến kỹ viện, chứ có phải đi giết người đốt nhà cướp của ở tiệm bạc hay lương khố đâu….Tôi nhịn lắm, không thể nhịn thêm nữa, bảo: “Mang đủ tiền là được rồi.” Thì khỏi phải nói, Lí Thừa Ngân quả thực có tiền, mà còn rất hào phóng nữa chứ, tôi vừa dứt lời, hắn đã vét đáy túi lấy ra một đống vàng, chậc chậc, quả thực có thể bao trọn cả phường Minh Ngọc luôn ấy chứ.

Tôi thay nam phục xong, Lí Thừa Ngân cứ tấm tắc cười, tôi gườm gườm dọa sẽ không dẫn hắn đi theo bây giờ, hắn khó lắm mới nín được cười.

Tôi bảo phải gọi A Độ theo, Lí Thừa Ngân sống chết không chịu dẫn nàng ấy theo. Tôi nói: “Không có A Độ bên cạnh, thiếp không quen.”

Hắn nghiêm nghị bảo: “Có ta bên cạnh nàng là đủ rồi.”

“Thế nhưng lỡ đâu….”

“Nàng không tin ta có thể bảo vệ nàng à?” Tôi thở dài, lần trước kẻ nào bị thích khách đâm cho một nhát hả, kẻ nào bị đâm đến chết đi sống lại, tí nữa thì bỏ mạng đấy hả…..Nhưng mà vừa chợt nhớ đến gã thích khách nọ , trong lòng lại thấy áy náy, lập tức cũng hết cả vùng vằng, mà tôi ngầm ra hiệu với A Độ. A Độ rõ ý tôi, nàng ta sẽ bí mật bám sát sau chúng tôi.

Thế là, tôi và Lí Thừa Ngân, 2 người chúng tôi biến mất khỏi Đông Cung mà thần không biết quỷ không hay. Vĩnh Nương nhất định vẫn ngỡ tôi và Lí Thừa Ngân đang trong nội điện, cũng không có kẻ nào khác phát hiện ra hành tung của chúng tôi. Không ngờ tôi còn thấy phấn khởi vô cùng, tôi vốn thích xuất cung ra ngoài chơi mà, kể cả hôm nay có thêm 1 Lí Thừa Ngân đi chăng nữa, tôi vẫn cứ cảm thấy rất đỗi hài lòng.

Ra khỏi Đông Cung, mới nhận ra trời đang đổ mưa. Làn mưa rét buốt táp vào mặt, rét đến thấu xương, bất giác tôi đã thấy lo lo, nếu mà mưa to hơn, hội ngắm hoa đăng ngày mai nhất định chẳng còn mấy hứng thú nữa. Năm kia trời cũng đổ mưa to, tuy trên phố phường có dựng lều trúc, đèn vẫn cứ treo, thế nhưng trăng nào có sáng vằng vặc, nào có biển hoa đăng để mà ngắm đâu.

Con đường lát đá bóng bảy trơn trượt ướt sũng trong cơn mưa, hằn lên tiếng vó ngựa lộc cộc. Hai bên đường, nhành liễu tuốt lá lưa thưa buông thõng như làn tóc rối, tô điểm lên quán xá hai ven đường, trong quán đang nhem nhóm ánh đèn vàng, trải dọc con đường dài tắp lự nơi không xa kia là sắc màu lấp lánh của chuỗi đèn lồng. Mai đã là tết Nguyên tiêu, nơi tửu lâu quán trà người đông việc nhiều, xe cộ như dòng nước chảy ngược xuôi trên đường. Thượng Kinh vốn có vẻ phồn hoa thế này đây, nhất là một Thượng Kinh những ngày giáp tết Nguyên tiêu, trong phồn hoa lâm râm âm ỷ là cái sự tĩnh lặng, vẻ e ấp hệt như tân nương sắp xuất giá về nhà chồng, nàng dầy công trang điểm, mặc xiêm áo rực rỡ, chỉ đợi có ngày mai.

Chúng tôi xuống ngựa trước cửa phường Minh Ngọc, có tiểu nhị ân cần niềm nở chạy đến giữ cương, dắt chúng vào tàu ngựa phía sân sau.

Tối nay phường Ngọc Minh tấp nập nhộn nhịp khác thường, lầu trên lầu dưới đâu đâu cũng có người. Toàn thân chúng tôi ướt quá nửa, Vương đại nương vẫn ra chào đón tôi với vẻ mặt như nhìn thấy bảo vật sống, miệng ngoác cười đến nỗi không khép lại được, giọng cố hữu sang sảng như ngày nào, may mà tôi cướp lời chặn ngang bà ấy: “Đại nương, tìm gian phòng cho chúng tôi thay áo quần trước đã, vị đại ca của tôi lần đầu tới đây, vẫn lạ nước lạ cái.”

Vương đại nương đánh giá Lí Thừa Ngân qua cách ăn vận bên ngoài một lúc, cái nhìn bợ đỡ ấy vừa trông thấy viên minh châu trên mũ đội đầu của Lí Thừa Ngân, lập tức cười híp cả mắt: “Đương nhiên, đương nhiên rồi, mời hai vị công tử đi lối này.”

Lúc lên lầu, tôi hỏi Vương đại nương: “Nguyệt Nương đâu?”

“Vừa mới có vị khách đến, thế nên Nguyệt Nương đi hầu đàn rồi.”

Tôi thấy rõ lạ, với cái kiểu bệnh tương tư từ lần trước của Nguyệt Nương, nể mối thâm tình bấy lâu nay giữa chúng tôi lắm, tỷ ấy cũng chỉ đàn được có 2 bài là đã phờ phạc ủ rũ. Nguyệt Nương không chỉ là hoa khôi của Minh Ngọc phường, mà còn xứng danh ca kỹ có tiếng ở Thượng Kinh, không xếp hạng nhất thì cũng phải hạng nhì, quan lại quyền quý loại tầm trung tỷ ấy còn chẳng thèm đả động, thậm chí cái lần tôi dẫn Bùi Chiếu đến, tỷ ấy có để ý gì đâu. Thế nên tôi tò mò hỏi: “Là vị khách quý nào mà lại có bản lĩnh thế?”

“Còn ai vào đây nữa?” Vương đại nương mặt mày rạng rỡ, “Chính là cái vị lần trước, khiến Nguyệt Nương nhà ta xuyến xao bồi hồi một đợt đấy thôi, lần này lại đến rồi.”

Hả?!

Tôi cảm giác như tính hiều kỳ trong mình đang trỗi dậy, liền đeo bám Vương đại nương đòi đi xem bằng được. Vương đại nương tỏ vẻ khó dễ, bảo: “Chuyện này…khách đang uống rượu trong phòng….không thể phá luật được…”

Tôi giở trò mềm nắn rắn buông một hồi, Vương đại nương nhất quyết không chịu. Bà ấy làm ăn không phải chỉ ngày một ngày hai, nghĩ bụng không nỡ hủy hoại tên tuổi gây dựng bấy lâu. Bà ấy tiếp đãi chúng tôi vô cùng niềm nở, dẫn chúng tôi vào một gian phòng đẹp đẽ lộng lẫy xong, còn gửi hai bộ quần áo lên, phân phó hai đứa a hoàn xinh xẻo vào giúp chúng tôi đổi đồ, sau đó tự mình đi chuẩn bị tiệc rượu thết chúng tôi.

Tôi chỉ sợ lòi cái đuôi mình là con gái, thế nên đợi bà ấy đi khuất, mới xua hai đứa đầy tớ kia đi, tự mình động tay thay bộ quần áo ướt này ra mới được. Lí Thừa Ngân khẽ hỏi: “Nàng định làm thế nào?”

Tôi cười ngô nghê nhìn hắn: “Làm thế nào cái gì cơ?”

“Đừng giả ngu! Ta biết tỏng nàng nhất định sẽ có cách để đi xem mặt gã khách quý gì gì kia!”

“Đương nhiên rồi! Nguyệt Nương là tỷ muội kết nghĩa với thiếp, lỡ đâu tỷ ấy bị gã hư hỏng kia lừa thì phải làm sao? Thiếp nhất định phải đi liếc cái đã!”

Lí Thừa Ngân “hừ” một tiếng, bảo: “Nàng thì biết gì về đàn ông mà tốt chẳng hỏng?”

Sao lại không hiểu chứ? Tôi thừa hiểu nhé!

Tôi chỉ vào mũi hắn: “Đừng khinh thiếp không biết nhé! Loại như chàng ấy, chính là loại đàn ông hư hỏng!”

Sắc mặt Lí Thừa Ngân trở nên khó coi: “Thế ai mới là người đàn ông tốt?”

Đương nhiên như cha tôi chính là người đàn ông tốt rồi, thế nhưng bây giờ tôi mà lôi cha mình ra nói, thể nào hắn sẽ cự cãi bằng được. Thế nên tôi bỗng nhiên nảy ra 1 ý, nói: “Như phụ hoàng ấy, người mới là đàn ông chân chính.”

Y như rằng, sắc mặt Lí Thừa Ngân càng sa sầm hơn, tím tái hệt như bị ngạt thở, tuy nhiên hắn không thể bảo cha hắn không phải người đàn ông tuyệt vời được, thế là hắn đành làm thinh, không tranh cãi với tôi nữa.

Tôi dẫn hắn ra khỏi phòng, thành thục dẫn hắn xuyên qua dãy hàng lang, ngó bốn bề không bóng người, mới lôi hắn vào 1 gian phòng.

Trong phòng không châm đèn, tối như bưng, giơ bàn tay ra còn chả trông rõ được 5 ngón. Tôi mau chóng dò dẫm khóa trái cửa, thế rồi lại mò mẫm đai lưng trên người Lí Thừa Ngân.

Lí Thừa Ngân trông tôi vừa trở gót đã ôm chặt hắn, bất giác cả cơ thể cũng săn lại, nhưng vẫn không đẩy tôi ra, trái lại, còn mặc kệ tôi sờ soạng lần mò. Thế nhưng tôi cứ mò mãi chưa xong, cuối cùng hắn không nén được hỏi tôi: “Nàng định làm gì thế?”

“Xuỵt! Không phải chàng mang theo ngòi châm lửa à? Lấy ra dùng xem nào.”

Lí Thừa Ngân móc ngòi lấy lửa ra dúi vào tay tôi, hình như còn tỏ vẻ giận dỗi, nhưng mà cả ngày hắn cứ hờn dỗi suốt, tôi cũng chẳng thèm bận tâm, châm ngọn nến đặt trên bàn xong, tôi nói: “Thiếp phải đi cải trang, rồi đi xem mặt gã khách quý của Nguyệt Nương cái đã.”

Lí Thừa Ngân nói: “Ta cũng muốn đi!”

Tôi mở hòm xiểng, vừa lấy đồ, vừa nói với hắn, nhưng đầu vẫn không thiết ngẩng lên: “Chàng không được đi!”

“Nàng ỷ vào đâu mà dám nói nàng đi được trong khi ta lại không được đi?”

Tôi lôi cả thảy kem yến bột nước ra, đặt cả trên bàn, rồi cười tít mắt nói: “Thiếp định trang điểm thành con gái để ra ngoài, chàng đi được chắc?”

Quả nhiên Lí Thừa Ngân đành cam chịu, thế nhưng đương lúc tôi dương dương tự đắc ngồi xuống chải đầu dặm phấn trước gương, Lí Thừa Ngân chợt buông 1 câu: “Ta cũng hóa trang thành con gái đấy!”

Tôi từ trên ghế ngã đánh rầm một cái làm rung rinh cả nền nhà.

Ôi mông ơi là mông, ngã một quả rõ là đau…. Cho đến khi Lí Thừa Ngân kéo tôi dậy, mông vẫn còn nhưc nhức.

Lí Thừa Ngân nói: “Đằng nào thì ta cũng phải đi cùng nàng.”

Tôi chỉ biết câm nín ngước mắt hỏi trời cao: “Thiếp đi xem cái gã kia thôi, chàng đi theo làm cái gì hả trời?”

“Nàng bảo cái cô Nguyệt Nương kia có sắc đẹp chim sa cá lặn hoa nhường nguyệt thẹn cơ mà….”

Tôi tức chết mất, tôi muốn ói ra máu luôn cho rồi, xưa kia tôi chỉ biết Lí Thừa Ngân là kẻ thủ đoạn lưu manh, chằng ngờ hóa ra hắn còn du côn trắng trợn nhường này, chỉ để ngắm được hoa khôi là Nguyệt Nương thôi mà hắn nguyện hạ mình đến thế, không ngại hy sinh thân mình hóa trang thành phận nữ nhi. Quả nhiên có chết vì gái đẹp cũng đáng.

Tôi nguýt hắn 1 cái: ‘Được thôi, qua đây!”

“Làm gì?”

Tôi thấy mình trong gương nở một nụ cười nham hiểm: “Đương nhiên là giúp chàng….trang điểm cho đẹp rồi!”

Cái này thì miễn bàn, khuôn mặt Lí Thừa Ngân vốn khôi ngô, cải trang thành nữ thì kiều diễm lắm đây.

Tôi hộ hắn chảy đầu, lại giúp hắn dặm phấn, thế rồi cài trâm, đeo bông tai, điểm hoa văn lên trán, lại lục đáy hòm lẫn tìm trong tủ một bộ váy cỡ lớn cho hắn mặc, quả là…. dáng áo tha thướt như tiên, rồi nhành hoa gì gì đó ươm hơi mưa…..

Cái khiến tôi thất vọng nhất là, vừa đọ gương với nhau xong, nom hắn còn đẹp hơn cả tôi nữa chứ!

Ai bảo da hắn mịn màng mềm mại sẵn, vừa thêm lớp phấn son, khí khái anh tuấn đâu chẳng thấy, lại biến thành 1 thiếu nữ xinh đẹp.

Thứ duy nhất không vừa ý ấy là hắn quá cao, lúc hóa trang thành nữ nhi lại không đủ yêu kiều, nhưng mà cũng tạm bắt mắt, lúc chúng tôi xuống lầu, có vài gã khách không ngừng vẫy tay đong đua chúng tôi, cứ như thể chúng tôi là mấy cô nương của phường này. Mặt tôi giễu nụ cười giả tạo, lách bên này tránh bên nọ, khó khăn lắm mới bước nhanh ra đến cửa sau, đột nhiên có tay khách say khướt chặn ngang đường, cười cười chụp lấy bả vai tôi: “Tiểu nương tử ơi, qua đây ngồi nào!” Cái mồm phả đầy hơi rượu ấy làm tôi choáng váng, chưa đợi tôi kịp làm gì, Lí Thừa Ngân đã vả cho hắn 1 cái.

“BỐP!”

Gã nọ bị đánh cho đờ người, tôi nặn ra một nụ cười: “Có…Có con muỗi….” thế rồi lôi xềnh xệch Lí Thừa Ngân chạy như bay.

Chạy một mạch đến lầu sau, mới nghe thấy lầu trước truyền lại tiếng gào như lợn bị chọc tiết: “Ối! Nó dám đánh người…..”

Lầu đằng đó láng máng tiếng xôn xao, gã khách nọ la hét ầm ĩ, song thể nào cũng có người đến giải quyết ấy mà. Lầu sau yên tĩnh hơn rất nhiều, tuy có cầu mái hiên vắt qua, nhưng nơi này vốn dành chỗ thết đãi thượng khách, loáng thoáng chỉ nghe thấy tiếng đàn ca, thỉnh thoảng mới có nửa câu nói cười lọt qua ô cửa sổ hé mở. Bên ngoài, tơ trời rả rích mưa tuôn, dường như phụ họa theo tiếng đàn thánh thót văng vẳng trong căn phòng. Khoảnh sân vườn đọng lại một mảng tĩnh lặng, nơi đó vốn dĩ có trồng lưa thưa vài loại cây cối, có điều tầm này vẫn chưa đâm chồi nảy lộc, trông vào chỉ một màu tối đen như hũ nút. Tôi kéo Lí Thừa Ngân chạy qua cầu mái che, trong lòng hiếu kì lắm. Vạt váy lê quét sàn gỗ, sột soạt sột soạt, chỉ có tiếng những mảnh ngọc bội va vào nhau leng keng leng keng. Đằng xa có châm đèn lồng, từng cụm từng cụm tỏa ánh hồng mông lung, tưởng xa xôi mà lại hóa ra rất gần. Dường như bàn tay tôi đang nắm đây, mà lại hóa ra một người xa lạ, tôi chợt nhận ra có lẽ đây là lần đầu tiên tôi cầm tay Lí Thừa Ngân, vành tai chẳng hiểu tại sao có chút nóng bừng. Bàn tay hắn mềm mại, lại dịu ấm, đan vào ngón tay tôi. Tôi không dám ngoái nhìn hắn, cũng không rõ lòng mình còn gì sợ hãi. May mà cầu mái hiên ngắn ngủn, chốc lát tôi đã lôi tuột Lí Thừa Ngân vào 1 gian phòng.

Căn phòng bài trí vô cùng tinh tế, ngọn lửa vàng hoe nhảy múa trên bấc nến đỏ, khắp phòng nức thơm mùi trầm, thảm len trải sàn cũng mang một màu đỏ tươi mới, giẫm lên cứ mềm oặt như đạp lên một đụn tuyết. Tôi biết chỗ này, chỗ này để Nguyệt Nương tiếp thượng khách đây mà, tôi nén thở tập trung cao độ, lẳng lặng bước lên vài bước. Đảo mắt qua lớp bình phong ngăn cách, loáng thoáng thấy có một gã đang ngồi chính giữa, Nguyệt Nương ở bên gảy đàn tì bà, cất giọng hát “Vĩnh ngộ lạc”. Đáng tiếc sau bức bình phong còn rủ buông một tấm mành, thân hình gã khách kia lộ không quá nửa người, nhìn chẳng rõ tẹo nào.

Đúng lúc ấy nghe có tiếng bước chân dồn dập, tôi sợ hết hồn, còn tưởng thằng cha nát rượu ban nãy đuổi theo chứ, thì ra là Du Nương với mấy ca nhi. Du Nương bỗng nhiên trông thấy tôi và Lí Thừa Ngân, cũng giật nẩy mình, tôi vội vã níu tay áo muội ấy, thì thào bảo: ‘Du Nuơng, là ta!” Du Nương che miệng giật lùi nửa bước, một lúc mới cười bảo: “Lương công tử sao lại cải trang thế này, bảo sao em suýt nữa không nhận ra.” Thế rồi mắt đảo sang Lí Thừa Ngân đang đứng sau lưng tôi, “Đây là vị tiểu thư nào vậy, nhìn sao mà lạ mặt.”

Tôi cười hì hì bảo: “Nghe nói chỗ Nguyệt Nương có thượng khách đến, ta ghé qua xem cho biết thôi.”

Du Nương nhếch miệng cười: “Ra thế.”

Tôi kề tai nói nhỏ mấy câu với muội ấy, thoạt dầu sắc mặt Du Nương có phần đăm chiêu, nhưng tôi bảo thêm: “Dù sao ta cũng chỉ liếc 1 cái là đi liền, đảm bảo không gây chuyện gì đâu.”

Ở phường Minh Ngọc này, bên cạnh Nguyệt Nương, thì Du Nương đối với tôi cũng khá tốt, tính tình muội ấy điềm đạm nhã nhặn, chào thua trước thói tôi mè nheo nhõng nhẽo, cuối cùng đành gật đầu đồng ý. Thế là tôi hân hoan vui sướng hỏi Lí Thừa Ngân: “Chàng biết múa không?”

Đảm bảo Lí Thừa Ngân suýt hộc máu, thế nhưng hắn vẫn tỉnh bơ hỏi lại tôi: “Múa điệu gì?”

“Đạp ca.”(*chú: một hình thức nghệ thuật vừa múa vừa hát)

Tôi chỉ đợi hắn phun ra câu không biết, có thế tôi mới cắt đuôi được hắn, tự mình đi chiêm ngưỡng dung nhan gã thượng khách nọ, chẳng ngờ hắn thẳng thừng ném ra hai chữ: “Ta biết!”

Tôi ngốc quá tôi ơi! Tôi đúng là ngu mà! Hắn là thái tử, độ tháng 3 hằng năm nào trong cung chẳng có lễ Kỳ yên cầu an, mà đều do Thái tử chủ trì đạp ca, tôi ngu quá đi mất.

Tôi nhùng nhằng níu kéo chút ít hy vọng: “Nhưng đây là điệu múa của con gái mà.”

“Xem cũng trên dưới mấy trăm lần rồi, chẳng qua na ná nhau cả ấy mà.”

Thôi thì…đã đến nước này rồi, đành vào cùng nhau vậy.

Tiếng đàn tì bà của Nguyệt Nương trong phòng đã ngưng bặt, tiếng sáo vi vu dìu dặt vang lên, trong đó ắt hẳn còn một đội công văn chuyên đàn sáo nữa. Làn điệu thúc giục đám ca nhi ra sân khấu, nhịp phách lững lờ chậm rãi, uyển chuyển mà tao nhã.

Tôi hít một hơi thật sâu, đỡ lấy quạt lụa Du Nương đưa cho, Lí Thừa Ngân và tôi nối đuôi mấy ca nhi tiến vào.

Lúc ấy, Nguyệt Nương đã khẽ cất giọng hát, “Quân vương như trăng trên bầu trời cao…”

Giọng ca của Nguyệt Nương trong trẻo mượt mà…mượt như châu như ngọc, chỉ mới một câu thôi đã khiến người ta si mê đắm đuối…Tim tôi cứ đập thình thịch không ngừng, cuối cùng có thể được nhìn gã khách nọ mặt mũi ngang dọc ra sao rồi, quả thật vừa vui mừng vừa phấn khởi lại thêm hiếu kỳ….Đám ca nhi mỉm cười chuyển mình xoay người lại, tôi và Lí Thừa Ngân cũng quay theo, tất cả mọi người đều đồng loạt hạ tay quạt, chỉ có tôi vừa hạ quạt xuống đã cứng đờ người.

Cả người hoàn toàn đờ đẫn

Lí Thừa Ngân ắt cũng thảng thốt y như tôi, những ca nhi khác đã bắt đầu hòa mình vào điệu múa, chỉ có tôi và hắn là chững lại, thừ người bất động.

Thì bởi rằng, vị khách quý ấy tôi có quen, không chỉ tôi quen, mà ngay đến Lí Thừa Ngân cũng biết.

Đâu chỉ dừng lại ở mức quen biết thôi đâu….

Trời cao ơi…

Xin người cho chúng con 1 cái lỗ để chui vào đi…

Hoàng thượng ơi…

Người có nhớ cánh sen trong cơn mưa mùa hạ bên bờ hồ Đại Minh không?

Bên mình, những ống tay áo muôn màu bồng bềnh phiêu diêu theo điệu hát, những vạt váy ấy tựa như gió chao nghiêng thổi ngược hướng, như băng tuyết tan đang chảy ngược dòng, lay động và nhập vào hồn người. Cả tôi lẫn Lí Thừa Ngân, 2 kẻ cứ đực mặt ra như gà gỗ, Du Nương dốc sức đưa mắt ra hiệu với tôi, tôi cũng cố nhéo mình 1 cái, rồi lại nhéo cả Lí Thừa Ngân…lúc này thật sự không phải đang mơ chứ? Đây nhất định chỉ là 1 giấc mơ mà thôi!

Bệ hạ…phụ hoàng…sao lại là người hả trời ơi? Người…người…người…bảo nhi thần và điện hạ nến trốn vào chỗ nào đây…Con chỉ muốn đào một cái lỗ…

May thay, bệ hạ không hổ là bệ hạ, lúc chúng tôi còn đương chết đứng tại chỗ vì quá đỗi kinh ngạc, thì người vẫn rất điềm tĩnh đảo mắt qua chúng tôi 1 cái, thế rồi người thản nhiên nhấc bát trà, tỏ vẻ chẳng hề hấn gì, nhấp một ngụm.

Lí Thừa Ngân tỉnh ngộ gần như ngay lập tức, hắn kéo tay áo tôi, rồi hòa vào đám ca nhi, lả lướt nhún từng bước đạp ca. Điệu múa ấy quả thực nơm nớp lo sợ, thấp thỏm không yên. Tôi vừa quay đầu lại, thấy Nguyệt Nương đã nhận ra tôi, trợn tròn mắt nhìn. Tôi ném trả một cái nhìn đầy nịnh bợ, tỷ ấy lườm tôi. Tôi biết tỷ ấy sợ tôi quấy quả làm thượng khách mất hứng—-đánh chết tôi cũng không dám làm bậy trước mặt vị khách này.

Chẳng dễ gì qua được khúc đầu tiên, Nguyệt Nương đứng dậy cười, toan nói gì đấy, thượng khác đã lạnh nhạt đoạn bảo: “Điệu đạp ca này quả không tệ.”

“Dẫu vẫn còn thiển lậu, may đại nhân không chê.” Nguyệt Nương uyển chuyển nói lời, “Chi bằng tạm cho họ lui xuống, Nguyệt Nương lại đàn mấy bài hầu đại nhân nghe.”

Thượng khách gật gật đầu: “Cũng được.”

Nguyệt Nương vừa buông tiếng thở phào nhẹ nhõm, vị khách quý lại giơ tay chỉ: “Bảo hai ca nhi này nán lại.”

Ngón tay của vị thượng khác này không hề thiên vị, trước tiên chỉ Lí Thừa Ngân, sau trỏ vào tôi. Tôi xem chừng Nguyệt Nương sắp ngất đến nơi rồi, cả khuôn mặt gượng gạo đến gần như không kiềm chế được: “Thưa đại nhân…giữ lại…giữ lại bọn họ là sao ạ?”

“Hai ca nhi này múa quả thực rất đẹp, giữ bọn họ lại hầu rượu.”

Lời thượng khách nói, ai dám khước từ chứ. Thế là, Nguyệt Nương ái ngại liếc tôi, tôi ái ngại ngó sang Lí Thừa Ngân, Lí Thừa Ngân ái ngại nhìn bệ hạ, mà bệ hạ…ôi, nhìn xoáy vào chúng tôi.

Nói chung là, tất cả mọi người đều lui ra ngoài, bao gồm cả đoàn công văn đào ca sáo nhị. Trong phòng chỉ còn có 4 người, bụng dạ người nào người nấy đều có suy tính riêng, ngơ ngác nhìn nhau.

Sau cùng, vị thượng khách sai bảo: “Nguyệt Nương, đi xem có món gì không.”

Lúc ấy Nguyêt Nương trở nên nôn nóng, hết đưa mắt nhìn tôi lại đảo sang nhìn vị khách quý. Trông bộ dạng vị đại nhân đấy thờ ơ như không, trong khi tôi đã liếc mắt ra hiệu với tỷ ấy, quả thực Nguyệt Nương không hiểu ý tôi gì cả, thế nhưng lại sợ vị khách này lần ra manh mối gì, cuối cùng đành vái chào rồi lui xuống.

Đầu gối tôi nhũn nhão quỳ sụp xuống đất, nào phải sợ, mà là vì quá mệt, điệu múa ban nãy tốn sức thật, mấy ca nhi dưới tay Du Nương đều là những ca kỹ có tiếng trong kinh thành, để bắt kịp nhịp mấy nàng ấy, quả nhiên mệt muốn chết.

Lí Thừa Ngân cũng quỳ gối như tôi, không khí trong phòng kì dị quái đản, khác thường khó nói thành lời.

Đừng bảo lại bắt tôi chép sách nhé? Tôi khổ sở nghĩ, phen này tai vạ ập xuống đầu rồi, tôi dám dẫn Thái tử điện hạ đến lầu xanh, lại còn bị Hoàng đế bệ hạ bắt quả tang ngay tại trận, bây giờ bắt chép phạt 30 lần “nữ giới”, tôi chết là cái chắc rồi.

Nhưng mà tự nhiên tôi lại nhớ ra 1 chuyện, bệ hạ cũng đến lầu xanh mà, vậy là cả nhà cùng đến kỹ viện rồi, xem ra người không nỡ bắt tôi chép phạt được rồi.

Lúc tôi còn đang nghĩ quàng nghĩ xiên, cuối cùng nghe thấy bệ hạ lên tiếng, người hỏi: “Ngân Nhi, sao con ở đây?”

Tôi liếc liếc bộ dạng giả gái của Lí Thừa Ngân, bệ hạ hỏi câu này cũng tráo trở thật, bây giờ mà Lí Thừa Ngân khai tôi ra, hắn không xong với tôi đâu.

May mà Lí Thừa Ngân tỏ vẻ cây ngay không sợ chết đứng, đáp: “Chỉ là do hiếu kỳ nên mới đến thăm quan thôi ạ.”

Bệ hạ chỉ vào tôi, hỏi: “Thế còn Thái tử phi?”

Lí Thừa Ngân lại tỏ ý vàng thật không sợ thử lửa trả lời: “Thái tử phi cũng tò mò, thế nên con dẫn nàng theo.”

Quá nghĩa khí! Tôi quả thực chỉ muốn vỗ vai Lí Thừa Ngân bảo, chàng có tình nghĩa thật đấy! Nhờ lần này chàng đã có ra tay trượng nghĩa với thiếp, lần sau thiếp nhất định sẽ báo đáp chàng.

_________________
Image


Top
 Profile  
 
Display posts from previous:  Sort by  
Post new topic Reply to topic  [ 24 posts ]  Go to page 1, 2, 3  Next


Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest


You cannot post new topics in this forum
You cannot reply to topics in this forum
You cannot edit your posts in this forum
You cannot delete your posts in this forum
You cannot post attachments in this forum

Jump to:  
cron
POWERED_BY
Translated by Maël Soucaze © 2009 phpBB.fr

MangTreVN được xây dựng từ 1 nhóm bạn trẻ vào Tháng 2, 2010 và phát triển bởi các Thành Viên.
Chúng tôi sẽ không chịu trách nhiệm về nội dung mà người dùng đưa lên hoặc download